Gia phả 007. HỌ NGUYỄN + HỌ ĐẶNG tỉnh Đồng Nai
Phả ký | Phả hệ | Phả đồ | Ngoại Phả | Phụ khảo
 
..:: PHẢ KÝ ::..


 Lời dẫn nhập   

Nước có Sử để ghi sự thịnh suy của từng triều đại.
Nhà có Phả để chép việc thăng trầm của một dòng họ.

Ngạn ngữ cũng nói : “Cây có cội, nước có nguồn, làm người phải biết tổ tiên, ông bà”. Con người Việt Nam vốn dĩ tôn trọng lễ nghĩa nên dù ở đâu, thời đại nào, làm nghề gì, giàu hay nghèo, mỗi gia đình đều có bàn thờ để cúng, giỗ ông bà, về mặt khác phải biết rõ thế thứ, ngành ngọn, quan hệ thân tộc, tên tuổi, năm sanh, năm mất, mồ mả của tổ tiên... Bao nhiêu việc đó dù cá nhân có trí nhớ tốt đến mấy cũng không tài nào nhớ nỗi, do vậy phải nhờ đến Gia phả để giải quyết những khó khăn nêu trên.

Chỉ cần giở ra từng trang gia phả thì nhiều thế hệ sẽ hiện rõ lên, ta cứ soi rọi vào đấy mà học tập, mà noi gương để giữ lấy đạo nghĩa của tiền nhân trong cuộc sống. Suy cho cùng thì sự thịnh vượng hay suy vong của quốc gia đều tùy thuộc vào kỷ cương, lòng yêu nước, yêu dân tộc của nhiều dòng họ, mà các dòng họ ấy đều là một thành viên của một đại gia đình là Tổ Quốc.

Vậy gia phả là gì ?

Gia là nhà, phả là chép vào, tức là một quyển sách để chép vào đó từng thế hệ, lịch sử riêng của mỗi nhà trong họ gồm tên tuổi, hành trạng, phần mộ, ngày giỗ... Nó khác sử ở chỗ chỉ bao gồm những sự việc, hành động của nhiều người, nhiều họ có liên quan mật thiết đến đại sự quốc gia.

Gia phả đối với ta có quan hệ thế nào ? Xin thưa : Đối với bản thân nó cho biết nguồn gốc, tông tích của chính mình ; đối với gia tộc nó cho thấy nhiều liên hệ chặt chẽ hơn như sự liên hệ bà con nội ngoại, chú bác, cậu dì và liên hệ giòng giống ông cha.

Các nhà viết sử quan niệm rằng “Lịch sử là sinh mạng của dân tộc, của quốc gia, nó có tính chất trường cửu không chỉ ở quá khứ, hiện tại mà cả ở tương lai nữa, nên việc nghiên cứu lịch sử không phải chỉ nhìn về quá khứ mà phải căn cứ ở quá khứ để hiểu rõ hiện tại và dự đoán, dự liệu cho tương lai”. Cho nên nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử con người cũng vậy, không những tìm hiểu nguồn gốc, lai lịch là đủ, mà phải đi sâu vào quá khứ, vào hành động của người ấy mà dự đoán cho tương lai, xem huyết thống con người ấy sẽ đi về đâu ? Nghĩa là vừa nhìn lại công nghiệp của tổ tiên trong dĩ vãng để hăng hái tiến bước trong tương lai. Chính dựa vào quan điểm ấy mà xưa nay có nhiều họ tộc, nhiều cá nhân dù có trải qua cơn dâu biển, gian truân, thất vọng vẫn hăng hái phấn đấu vươn lên mà khôi phục được cơ nghiệp.

Do đó, mọi người chúng ta phải ra sức vun bồi gốc rễ. Gốc rễ có vững chắc thì cành ngọn mới tốt tươi, được vậy mới gọi là làm tròn chữ Hiếu, chữ Đức để “Vĩnh truyền tôn thống” vậy.

Họ Nguyễn nhà ta vốn định cư nơi vùng quê Tam Phước, thuộc lớp dân nghèo, đến đời cha tôi do tạo hóa an bài đã về Cù Lao Phố và sanh ra con cháu chúng ta.

Trong huyết quản tôi chan hòa hai dòng máu Nguyễn - Đặng, nhờ tất đất, ngọn rau của xã Hiệp Hòa, nhờ sự giáo dục của ngoại, của mẹ mà tôi được nên người tham gia đấu tranh cách mạng, sống chết xem thường, tù đày xem như khó tránh. Cho đến năm 1975, đất nước thanh bình, chồng vợ, cha con, gia đình mới đoàn tụ.

Cuộc kháng chiến dai dẳng, một số người ngã xuống vì lý tưởng, một số tan tác xiêu lạc bốn phương, một số tuổi già đã về với ba thước đất, ngày nay còn một số bận công tác chưa về và một số khác ra định cư đất lạ...

E rằng, lớp con cháu sau này lớn lên, không hiểu rõ đâu là cội nguồn, đâu là thế thứ, phong hóa kỷ cương gia tộc, truyền thống lễ giáo thân tộc ngày càng lơi lỏng làm cho tình nghĩa nhạt phai, vàng thau lẫn lộn, giỗ chạp qua loa, mồ mả xiêu lạc. Nghĩ tới chạnh lòng nên nhất quyết phải lập nên bộ gia phả này.

Với trách nhiệm và bổn phận hiện tại của mình, trên đôi vai này xin gánh họ Đặng một bên và họ Nguyễn ở một bên.

Xã Hiệp Hòa, cuối Đông Tân Tỵ - 2001
Nguyễn Văn Thạnh (tức Nguyễn Thanh Sơn)
Cẩn bút
 
 
Phả ký
 
ĐƯỜNG VỀ QUÊ NỘI
 
Từ đầu cầu Đồng Nai, theo quốc lộ 51 hướng về Vũng Tàu được 12 km, qua phường Long Bình Tân, xã An Hòa, vừa hết xã Phước Tân là đến ranh giới xã Tam Phước.
 
Với một địa hình khá phức tạp, phần phía Bắc suốt chiều dài của xã nơi có đường quốc lộ xuyên qua là vùng gò đồi rất cao, xưa có danh xưng là Dốc 47. Địa chất thuộc đất gò phù sa cổ, nền đất sét rắn chắc khô cằn, phù hợp cho rừng chồi và bạch đàn, còn phía Nam có con đường nhựa liên xã thuộc ảnh hưởng lưu vực sông Đồng Nai, đất thấp chằng chịt sông rạch, bưng biền, thích nghi cho các loại cây ăn trái, nghề làm ruộng và đánh bắt tôm cá.
 
Với một hoàn cảnh lịch sử là đang lúc người phương Tây ráo riết dòm ngó, triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, phái chủ chiến thì quyết chiến, phái chủ hòa thì “nghị hòa”, để cuối cùng lãnh thổ Nam kỳ rơi vào tay giặc, chữ Nho bị xóa bỏ, chính sách ngu dân được thi hành, trường học đã thiếu lại ở xa, con người lam lũ, nhọc nhằn, lo ăn lo mặc, việc học hành là món xa xỉ, trừ lớp người thượng lưu.
 
Với điều kiện thắt ngặt như thế nên phần lớn trình độ dân trí và cuộc sống vật chất không cao.
 
Với bối cảnh ấy, và trong khi xã Tam Phước còn mang tên là thôn Phước Hưng, tổng Long Vĩnh Thượng, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa, thì Tổ phụ họ Nguyễn chúng ta đã đến đây khai cơ dựng nghiệp và gầy dựng nên dòng họ Nguyễn.
 
PHÁT TÍCH NGUỒN GỐC HỌ NGUYỄN
 
Theo ông mười Nguyễn Văn Nam, người cao tuổi nhất kể lại thì vị Tổ phụ mà ông gọi bằng ông nội tên là Nguyễn Văn Lắm, là người họ Nguyễn đầu tiên về định cư và khai canh, phát triển dòng họ nơi đây.
 
Không biết năm sanh năm mất của ông, nay dựa vào năm sanh của người con thứ sáu Nguyễn Văn Ngộ là 1876 để xác định thì ông Tổ phụ ở vào niên đại khoảng 1846 (cho là 30 tuổi ông có người con thứ sáu) là lúc mà vua Tự Đức nhà Nguyễn đang trị vì, người Pháp chưa đến.
 
Ông Tổ phụ Nguyễn Văn Lắm thành hôn với bà nguyễn Thị Liễu, trong gia phả này ta gọi là ông Tổ đời I.
 
Các người con đầu của ông bà đều bất hạnh mất sớm, chỉ còn người thứ sáu Nguyễn Văn Ngộ sanh năm 1876, thứ bảy Nguyễn Văn Kỳ sanh năm 1878, thứ tám Nguyễn Thị Ngân sanh năm 1879. Như vậy ông bà có khả năng còn hiện diện trên đời vào cuối thế kỷ 19 - khi người Pháp đã cai trị vững chắc Nam kỳ.
 
Mộ ông bà chỉ là mộ đắp đất, an táng ở thôn Phước Hưng xưa, (nay là ấp Long Khánh 2, xã Tam Phước) trên một gò đất. Năm 1968, mộ ông bà đã bị xe tăng Mỹ san bằng, mất dấu vết, việc cúng giỗ ông bà do cháu nội út là ông mười Nam lo liệu.
 
ĐỜI II HỌ NGUYỄN
 
Ông bà Tổ phụ sanh 7 người con nhưng trưởng thành chỉ có 3 (2 trai và 1 gái), thời điểm có mặt ở hậu bán thế kỷ XIX nên trọn cuộc đời sống dưới ách cai trị của chế độ thực dân.
 
Người con trưởng là ông sáu Nguyễn Văn Ngộ với cuộc đời lam lũ nơi làng quê Tam Phước sanh khá đông con, gần lúc cuối đời thì Cách mạng tháng Tám thành công, tiếp theo là chín năm kháng chiến, vùng Tam Phước thành khu du kích Việt Minh, giặc Pháp nổ lực bảo vệ đường 15 chiến lược nên càn quét ác liệt, gom dân vào sống tập trung để dễ bề kiểm soát, ông cùng thân nhân chạy về xã An Hòa - Bến Gỗ vào năm 1950, nhưng do già yếu nên qua một năm sau thì bệnh mất, mộ ông được chôn cất ở Bến Gỗ, trong khi bà mất sớm hơn nên mộ chôn ở quê nhà Tam Phước.
 
Sau khi đất nước hòa bình, số con cháu tản cư đã trở về quê cũ, đất An Hòa đã nhanh chóng phát triển đô thị hóa, mộ ông xưa thuộc đất nghĩa trang nhưng nay nhà cửa chen chúc nên tọa lạc giữa sân nhà người nơi khu 3, ấp 2, xã An Hòa - đường vào thánh thất Cao Đài, nay mới lấy cốt đưa về nghĩa trang xã Tam Phước.
 
Người em trai kế là ông bảy Nguyễn Văn Kỳ lập gia đình với người họ Huỳnh ở xóm Bình Dương, làng Long Bình Tân thuộc một họ khá giả được gia đình vợ chia cho đất đai làm sinh kế, đây là chi họ Nguyễn đầu tiên rời quê Tam Phước về ở quê vợ, ngày nay con cháu còn ở đây.
 
Phần người em gái Nguyễn Thị Ngân, lấy chồng người họ Mai cũng là người ở xóm Bình Dương, Long Điềm, không xa mấy với người anh mình. Điều kiện kinh tế xưa và nay của hai người em ở Long Bình Tân có phần phát triển hơn người anh ở Tam Phước vì không nằm trong vùng có chiến sự ác liệt.
 
THẾ KỶ SANG TRANG ĐỜI III NỐI TIẾP
 
Ông Tổ phụ Nguyễn Văn Ngộ, chi họ Nguyễn duy nhất trụ lại ở Tam Phước, trong khi em trai, em gái về vùng quê mới, các con (đời III) ra đời là bước sang thế kỷ 20, cầu Gành, cầu Rạch Cát có đường xe lửa nối thông Bắc, Trung, Nam. Đường Thiên lý cù chạy từ thành Gia Định qua Thanh Đa lên Thủ Đức đến ven núi Châu Thới lên chợ Đồn, xuống Long Thành, Bà Rịa để ra kinh đô Phú Xuân, đã được sửa sang, rải đá từ năm 1902 nối liền từ Vườn Mít ra Vũng Tàu.
 
Ông tổ phụ Nguyễn Văn Ngộ sanh con đầy đủ là chín người : thứ hai là gái, thứ ba là trai (chết nhỏ), thứ năm vô danh (chết nhỏ), thứ bảy là gái, thứ chín vô danh (chết nhỏ).
 
Hai người con gái thứ hai và thứ bảy trưởng thành có gia đình và có con cháu. Bốn người con trai là : người thứ tư Nguyễn Văn Hý có hai con (một gái, một trai), người thứ sáu Nguyễn Văn Huầy về ở Hiệp Hòa, người thứ tám Nguyễn Văn Lụa lớn lên có vợ con nhưng đều chết vì bịnh đậu mùa và ông út mười Nam nay cùng con cháu ở tại quê hương.
 
Chiều hướng phát triển dòng họ theo xu thế lần về hướng Tây sông Đồng Nai, lên Bến Gỗ, An Hòa, Long Bình, Tân Vạn, Hiệp Hòa.
 
Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, lại cộng thêm hơn 20 năm đánh Mỹ, cục diện hoàn toàn đổi khác, khu di cư người Bắc ở Hố Nai, Tân Mai; xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa được xây dựng, khu kỹ nghệ Biên Hòa và tổng kho quân sự Long Bình mọc lên làm cho chiến khu Bình Đa, Vĩnh Cửu, An Hòa bị thu hẹp. Người thoát ly, người ở lại hoạt động mật, trăm bề gian khổ. Cho đến năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh thần kỳ mới xua tan mây mờ ảm đạm.
 
Ngày nay, qua 26 năm hòa bình và xây dựng, bà con ta về lại vườn xưa, nhà cửa đàng hoàng, điện đường trường trạm đầy đủ, trai trẻ hầu hết là công nhân xí nghiệp, nếp sống nông nghiệp theo phong tục xưa chỉ là một phần nhỏ trong cuộc sống hôm nay...

XÃ HIỆP HÒA - QUÊ NGOẠI
 
So sánh với họ Nguyễn - nhà sui gia ở Tam Phước - thì họ Đặng ở Cù Lao Phố, nếu theo truyền thuyết trong họ là chính xác, ông bà Tổ phụ đến đây khai canh dựng nghiệp có tên là ông Đồ, bà Đường (hoặc ông Đường, bà Đồ) người đã sanh ra anh em ông Tổ phụ Đặng Văn Phuông tại đây, nhưng truy về nguồn gốc phát tích thì không còn ai biết rõ là buổi đầu cư ngụ nơi thôn nào trong làng Hiệp Hòa ? Có ông bà ấy hay không ? Mồ mả ở đâu ? Khó có đáp số lý giải.
 
Ta đành giở lại lịch sử cấu trúc  dòng họ ở nơi đây theo sách Gia Định thành thông chí.
 
Sách Gia Định Thông Chí viết :
 
Năm 1679, di thần nhà Minh là Trần Thượng Xuyên xin tị nạn nơi đất Việt được chúa Nguyễn cho vào cửa biển Cần Giờ định cư ở Bàn Lân, biết rằng trước đó người Việt đã đến khẩn hoang lập ấp từ Mỗi Xuy (Bà Rịa) cho đến núi Nứa, Thị Vải, Bà Ký, Đồng Môn, Bến Gỗ dọc theo sông Phước Long. Bàn Lân tức là chợ Biên Hòa ngày nay. Số người Hoa hiện diện tại đây là một bộ phận của 3.000 tướng sĩ Cao Lôi Liêm di tản sang Việt Nam. Họ đốn chặt cây cối, mở đường sá, tìm nguồn nước, chủ yếu giải quyết vấn đề lương thực và họ đã nhìn thấy Cù Lao Phố có hệ thống sông ngòi bao quanh, có nhiều đất sét tốt cho nghề gốm. Với điều kiện tự nhiên nầy giúp cho nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp dễ dàng phát triển, nên họ chiêu tập thêm những thương nhân người Hoa đến xây dựng thương cảng, nhà phố, đường sá, làm cho Nông Nại đại phố hưng thịnh một thời.
 
Sự phát triển của phố cảng thương mại này là kết quả của quá trình khẩn hoang và thiết lập bộ máy cai trị kể từ sau 1698 Nguyễn Hữu Cảnh đặt phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên làm huyện Phước Long rồi chiêu mộ dân Nam Bố Chánh vào ở khắp nơi, đặt ra làng, ấp, thôn. Lúc ấy, xóm Chùa, xóm Chiếu, xóm Rạch Lò Gốm của Cù Lao Phố đã thành lập 11 thôn thuộc tổng An Thủy, huyện Bình An. Con cháu người Tàu thì lập xã Thanh Hà, một cơ sở hành chánh có tính chất “lãnh sự quán” (không có đất) đặt trụ sở ở miếu Quang Đế xây dựng từ năm 1684, sau Trần Thượng Xuyên đến 5 năm.
 
Nhưng rồi công cuộc khẩn hoang tiến nhanh về miệt dưới, nên vị trí trung tâm của đất phương Nam dần dần dời về Bến Nghé-Sài Gòn. Cũng vì lẽ khác là khi xứ Cù Lao Phố thành nơi đô hội thì tự nó trở thành điểm nóng của cuộc tranh chấp quyền lực và chính trị.
 
Năm 1747, thương nhân Phước Kiến Lý Văn Quang mưu toan đánh úp dinh Trấn Biên nhưng bị dập tắt làm cho nhiều gia đình có liên hệ phải bỏ đi nơi khác.
 
Năm 1776, Tây Sơn vào Gia Định lần thứ nhất, chiến cuộc nổ ra ở dinh Trấn Biên, dân Cù Lao Phố phải di tản, nhất là biến cố năm 1776 đã tàn phá Cù Lao Phố làm cho “chỗ này biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta có trở về nhưng dân số không được 1% lúc trước” (theo Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức). Kể từ 1776 đến những năm cuối cùng của cuộc nội chiến, Cù Lao Phố gặp phải nhiều điều khó khăn hơn cho đến 1789, khi Nguyễn Ánh làm chủ được đất Gia Định thì 10 thôn ở đây mới được ổn định, các thiết chế văn hóa tín ngưỡng về đình chùa, miếu võ được hoàn thiện trong giai đoạn này.
 
Sau khi Gia Long tức vị (1802), việc khẩn hoang lập làng vẫn được tiếp tục, theo địa bạ Minh Mạng lập năm 1836, Cù Lao Phố đã hình thành 13 xã thôn thuộc tổng Phước Vinh Thượng, huyện Phước Chánh, tỉnh Biên Hòa.
 
Năm 1859, Pháp hạ thành Gia Định rồi mắc việc ở Trung Quốc, Biên Hòa là một hậu cứ quan trọng của nhà Nguyễn. Sau khi Đại đồn thất thủ, Biên Hòa trở thành điểm hội tụ của quân thứ Định Biên, Nguyễn Tri Phương về đóng quân tại thôn Mỹ Khánh, chợ Đồn hàn sông chống giặc, đến 1861, từ Trung Quốc trở về và có quân tăng viện, Pháp chiếm được thành Biên Hòa, nhân dân 13 thôn đứng lên đi theo tiếng gọi của non sông, nhiều làng không còn người ở lại.
 
Năm 1879, thực dân Pháp sắp xếp lại các làng thôn, Cù Lao Phố gom lại thành 3 làng :
- Nhứt Hòa : gồm các thôn Hưng Phú, Tân Giám, Bình Tự, Bình Xương.
- Nhị Hòa : gồm các thôn Tân Mỹ, Thành Hưng (trước là Thành Đức, Tân Hưng nhập lại), Bình Kính (tức Bình Hoành).
- Tam Hòa : gồm các thôn Bình Hòa, Long Quới, Hòa Quới, Bình Quan.
 
Lại thêm một lần hợp nhất nữa là năm 1928, 3 làng nhập lại thành Hiệp Hòa cho đến ngày nay.
 
Kể dài dòng như trên để thấy rằng các dòng họ cư trú nơi đây từ thế kỷ 17, 18 không phát triển nhiều đời thành những đại tộc, nên xã Hiệp Hòa thiếu vắng những họ tộc có 7, 8 đời. Những biến động chính trị, quân sự kéo theo sự di dời dân đi nơi khác và hội nhập nguồn dân cư mới, khiến cho sự phát triển tông tộc không rõ rệt, các tộc họ đến đây chỉ từ thế kỷ XIX.
 
Theo sách “Cù Lao Phố lịch sử và văn hóa” (Nhà XB Đồng Nai - 1998), về các kiến họ có mặt nơi đây thì họ Nguyễn (ông tổng Thi) năm 1810, họ Tống Đình năm 1885, họ Nguyễn (ở Nhứt Hòa) năm 1859, họ Trương (ở Bình Tự) năm 1865, họ Đinh (ở Tam Hòa) năm 1861 là truyền được 5, 6 đời.
 
Do sự phát tích họ tộc không sớm lại nhằm lúc giai đoạn lịch sử lắm nỗi thăng trầm nên các thành viên của một dòng họ, có họ đông người phải cho sang họ khác, không đủ thời gian dài để hình thành dòng họ.
 
Về việc cúng giỗ ông bà, ngay trong tộc họ được coi là lớn ở đây cũng chỉ đến đời thứ ba, nghĩa là chỉ cúng giỗ đến ông nội (hoặc ông ngoại) rồi thôi nên kéo theo sự hiểu biết hạn chế về lớp trên như cố, sơ, sờ, sẩm... Về mồ mả ở trong vườn nhà cũng vậy, chỉ có đến ông bà nội, còn mộ ông cố, ông sơ chẳng thấy có ai.
 
Có một truyền thuyết trong gia đình từ ông bà thân sinh của ông ba Sơn nói lại, thì ông bà Cao tổ họ Đặng (người sanh ra anh em ông Đặng Văn Phuông) có thể phát tích ở thôn Bình Hòa (Gò Cát) nơi hiện còn đông đảo thân tộc họ Đinh. Và ông bà có thể tên là Đồ và Đường (không xác định được tên nào là của ông và tên nào là của bà), do nơi lời căn dặn con cháu không được nói “đường” mà phải nói “đàng” và “đồ” phải nói là “tuồng”, tập quán này trong tộc ai cũng biết.
 
Không biết mồ mả ông bà tọa lạc ở đâu, nhưng chắc chắn là ông bà có mặt ở Cù Lao Phố và sanh các con là : ông khuyết danh, ông Đặng Văn Phuông, bà Đặng Thị Tịnh. Đồng thời ông cũng là người khai khẩn đất đai, ruộng vườn nơi xóm Bình Quan hiện nay mà con cháu đang ở. Truyền thuyết này vẫn còn tồn nghi ! 
 
Trong bối cảnh đó, và trong thời kỳ hình thành 3 làng Nhứt Hòa, Nhị Hòa và Tam Hòa ba anh em người họ Đặng hiện ngụ tại làng Tam Hòa là:
- Người thứ năm : Khuyết danh (không còn ai biết tên)
- Người thứ tám : Đặng Văn Phuông (là Tổ phụ họ ta)
- Người thứ chín : Đặng Thị Tịnh
 
Gia phả này chỉ chép chi ông Tổ phụ Đặng Văn Phuông, phần ông Tổ bá và bà Tổ cô xin xem ở phần phụ khảo.
 
Ông Tổ phụ Đặng Văn Phuông sanh năm Mậu Thìn (1868). Khi người Pháp bình định xong Lục tỉnh Nam kỳ và có thể là dân mới nhập cư sau cơn loạn lạc, lớp người tay trắng phải mướn ruộng để cày, nộp tô cho điền chủ, nhưng vốn người am hiểu Nho học, tánh tình phong lưu phóng khoáng, rành rẽ nhạc lễ. Trong quá trình giao lưu đờn ca, bóng rỗi mà lập gia đình với bà Đinh Thị Ngàn, con gái họ Đinh ở xóm Gò Cát, Bình Hòa. Một gia đình hạnh phúc được hình thành trong cuộc sống khiêm tốn, lao động vất vả ngày lụn tháng qua, rồi những đứa con lần lượt ra đời. Trong 8 người con thì 2 người con gái chết nhỏ, 5 người con gái trưởng thành và 1 người con trai duy nhứt nhưng không may người này vô tự, nên vợ chồng người con gái thứ tám trở thành người kế thừa hương hỏa giỗ chạp, quảy đơm cho Tổ phụ Đặng Văn Phuông, Tổ mẫu Đinh Thị Ngàn.
 
Cũng từ đó, ông sáu Nguyễn Văn Huầy, người Tam Phước về ở rễ nhà họ Đặng và lưu truyền cánh con cháu họ Nguyễn nơi xóm Bình Quan, ấp Tam Hòa, xã Hiệp Hòa đến nay. Hệ phái họ Đặng Văn Phuông không còn, chỉ có con cháu của người anh như là ông hai Chà, tư Sai, năm Hoằng là con ông ba Hiện và ông Lúa, ông Đấu (tức ông Thiện) là con ông tư Hiển còn hậu duệ bảo lưu dòng họ.
 
kẾT LUẬN
 
Nếu kể về thế thứ thì dòng họ nội, ngoại không lâu đời, nói về mặt phát triển con người thì cũng không đông, còn có 2 người họ Nguyễn sống bên quê vợ khiến cho nguyên quán càng thêm thiếu vắng, vốn lớp người cùng khổ, thiếu chữ nghĩa học hành nên luôn thuộc giai tầng thấp kém trong xã hội, lại đang là lúc đất nước bị ngoại bang cai trị, tương lai cuộc sống mịt mù.
 
Rồi cách mạng Mùa thu thắng lợi, mọi người được giác ngộ, ai nấy đều rầm rập đứng lên gia nhập hàng ngũ Việt Minh, đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến suốt 9 năm trường.
 
Hòa bình 1954 tái lập, nhưng Mỹ lại thay Pháp kéo dài thêm chiến tranh hơn 20 năm nữa, thời kỳ này cường độ chiến tranh càng khốc liệt hơn.
 
Về phía họ Nội, các thế hệ đi trước, lớp phải chịu sự bóc lột thuộc địa nên khổ nghèo cùng cực, dốt nát thiệt thòi, lớp tiếp theo đương đầu với chiến tranh xâm lược. Có người chết vì tên bay đạn lạc, có người bị dịch trái trời, một số theo lý tưởng cách mạng, vài ba người thí phát qui y theo vào cửa Phật, người già, con trẻ bị lùa vào ấp chiến lược, cũng có người bị bắt đi quân dịch cầm súng cho chế độ Sài Gòn làm cho quê hương hoang phế, nhà cửa điêu tàn, mả mồ xiêu lạc, ngày nay đa phần số người lưu tán trong chiến tranh đều có cơ ngơi vững chắc khắp nơi nên không trở về quê cũ.
 
Còn về Cù Lao Phố, theo thống kê của UBND xã Hiệp Hòa, năm 1996 dân số có 9.506 người. Ngày nay trình độ dân trí khá, đời sống luôn được nâng cao, công tác y tế và kế hoạch hóa gia đình tốt, nhưng dân số gia tăng cơ học cao, người mới đến nhiều hơn người đi, nên tiến trình dân số là hội nhập hơn là phát tán. Nếu kể năm 1930, dân số Cù Lao Phố chỉ khoảng 4.000 người, cuộc sống nghèo túng, nam giới phải đóng thuế thân, phải bị bắt làm xâu, đi canh gác, không phải ai cũng có tiền để đóng thuế, nên trốn xâu, lậu thuế, trốn đi nơi khác nếu bị bắt phải đóng trăng 15 ngày.
 
Ngoài ra còn phải đóng thuế đất, thuế nhà, nếu mướn ruộng làm thì phải đóng tô, tức và loại “xâu” tức thứ đóng góp không văn bản là công lễ cho chủ điền. Nếu mướn 1 mẫu dù ruộng tốt hay xấu cũng phải nộp 10 công lễ, Tết phải đem cho chủ điền một thúng gạo trắng, hai thúng gạo lức, sáp làm đèn cầy và một cặp vịt, 10 ngày công thì ra giêng phải đến nhà chủ làm thí công.
 
Ông bà họ Đặng ta trong hoàn cảnh mướn ruộng để làm với thông lệ ruộng thượng hạng sản xuất  mỗi mẫu 100 giạ thì nộp 60 giạ ; ruộng hạng nhứt sản xuất mỗi mẫu 85 giạ thì nộp 50 giạ ; ruộng hạng nhì sản xuất mỗi mẫu 75 giạ thì nộp 45 giạ.
 
Tuy lam lũ vất vả như vậy, tuy chưa làm chủ được một mảnh ruộng, nhưng do cách đối nhân xử thế nên sớm tạo được một uy tín nhứt định trong làng, được tín nhiệm cử làm chức Kế hiền lúc sinh thời và khi qua đời được lập bài vị thờ chung với Tiền hiền, Hậu hiền trong đình Bình Quan.
 
Cần kiệm, lao động sản xuất rồi cũng sắm được đôi trâu, mua được 25 sào ruộng thoát cảnh tá điền, không lâu thì đến Cách mạng tháng Tám, giải thoát đời nô lệ.
 
Cù Lao Phố bốn bề sông nước bởi một bên là sông Đồng Nai và một bên là sông Rạch Cát có các bến đò : bến Tắm ngựa ở khóm Bình Kính, bến đò Kho đi qua Tam Hiệp, bến đò An Hảo đi qua An Bình, Long Bình, đặc biệt hai bến đò Kho và An Hảo là các cửa khẩu tiếp tế cho căn cứ du kích Bình Đa nổi tiếng hồi 9 năm kháng chiến để từ đây gia đình Đặng, Nguyễn dấn thân vào con đường cách mạng, kẻ ở nhà khó khăn đau ốm phải bán đi 14 sào ruộng để thuốc men, lo cho con cái ăn học.
 
Chín năm kháng chiến chống Pháp và thêm hơn hai mươi năm đánh Mỹ, có người ngã xuống, có người bị tù đày, có người nằm trong vòng vây của kẻ thù nhưng cũng đều hiên ngang bất khuất để cuối cùng có được thành tựu hôm nay. Trong đó, đã nổi bậc lên ba người đàn bà qua ba thế hệ. Một người từ bỏ đam mê tuổi trẻ về với ruộng vườn, dạy dỗ con cái theo đạo tứ đức tam tòng ; một người không ngại gian lao nguy hiểm ra vào nội thị chiến khu, vận chuyển vũ khí truyền đơn, đưa rước, chứa nuôi cán bộ, giữ vững đầu mối giao liên, bảo vệ an toàn cho mọi công tác ; một người âm thầm chịu đựng thay chồng vất vả nuôi dạy con cái nên người.
 
Đành rằng ơn cha, nghĩa mẹ sanh dưỡng đạo đồng, nhưng nơi đây bỗng thấy vai trò người mẹ vĩ đại, tuyệt vời, trân trọng quá, cho nên dựng bộ gia phả này, với ý nghĩa thiêng liêng là dành một phần tôn vinh các bà mẹ.
 
Qua hai mươi sáu năm đất nước hòa bình, quê hương ta màu xanh phủ kín, phố thị mọc lên, khu công nghiệp ống khói vươn cao, đồng ruộng thâm canh tăng vụ, con người ra sức cống hiến, hoặc là cán bộ viên chức, hoặc là công nhân lao động, lớp trẻ có điều kiện học hành để trở thành giám đốc, thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, cho ngang tầm thời đại, góp phần xây dựng đất nước.
 
Hiện tại, hai họ nội ngoại ta có người thành đạt, có người còn vất vả gian nan, cá biệt có người ra định cư ở nước ngoài, nhưng ai ai cũng chung một tấm lòng hướng về dòng họ, hướng về quê hương ông bà. Xin hãy coi gia phả này là một trung tâm đoàn kết dòng họ, nơi chỉ ra chung giòng huyết thống, cho biết rõ đâu là thế thứ cội nguồn, đâu là mồ mả giỗ chạp, để từ đó học tập điều hay, tránh xa điều dở, góp phần vun trồng gia đạo, bồi đắp gia phong, không ỷ thế công thần, cũng không tự ty mặc cảm mà cố phấn đấu trau dồi đạo đức, nâng cao hiểu biết, ra sức lao động, tránh xa cám dỗ, cờ bạc, rượu chè, ma túy... để làm người con gương mẫu trong gia đình, người công dân tốt đẹp ngoài xã hội, để cho mỗi bộ gia phả đều trở thành là chiếc cầu nối trên phương diện văn hóa trong thời điểm giao mùa giữa hai thiên niên kỷ.
 
 
Các dòng họ khác
» 001. Họ Võ (Võ Minh Trí) - xã Mỹ An Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
» 002. Họ Lê (Lê Văn Hồng) - ấp 2, xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
» 003. Họ Bùi (Bùi Văn Như) - ấp Tiền Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP.HCM
» 004. Họ Đỗ (Đỗ Quang Đẩu) - phường Thạnh Lộc, Q.12, TP.HCM
» 005. Ho Hồ (Hồ Hảo Hớn) - ấp Hòa, xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
» 006. Gia phả họ Lê (Lê Thanh Hải) - ấp La Bang, xã Long Sơn, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
» 006. HỌ NGÔ - xã Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, TP.HCM
» 007. HỌ NGUYỄN + HỌ ĐẶNG tỉnh Đồng Nai
» 008.HỌ NGUYỄN (HỌ HỒ), ấp Thủ Bộ, xã Long An, huyện Cần Giuột, tỉnh Long An
» 009. Họ
» 010. Họ Nguyễn & Họ Hồ - ấp Phong Quới, xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
» 011. Họ Nguyễn (Nguyễn Thị Minh Tự), ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP.HCM
» 012. Họ Phan (Phan Văn Nguyên), ấp Bờ Kinh Trên, xã Bình Tân, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
» 013. Ho Trương (Trương Mỹ Hoa)
» 014. Họ Trương (Trương Văn Minh), ấp Giồng Dứa, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
» 015. Họ Võ (Võ Minh Trí), xã Mỹ An Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
» 016. Họ Huỳnh (Huỳnh Quốc Thắng), thị xã Tân An & huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
» 017. Họ Huỳnh (Huỳnh Văn Nở), phường 12, quận Gò Vấp, TP.HCM
» 018. Họ Lê (Lê Thành Tâm, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP.HCM
» 019. Họ Nguyễn (Nguyễn Chơn Trung), ấp Bình Lợi, thị trấn Tân Trụ, tỉnh Long An
» 020. Họ Nguyễn (Nguyễn Chiến Thắng), ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
» 021. Họ Phạm (Phạm Khắc), xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
» 022. Họ Tô (Tô Ký), xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP.HCM
» 023. Họ Nguyễn (Nguyễn Minh Thắng), xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP.HCM
» 024. Họ Trần (Trần Trọng Đức), huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị
» 025. Họ Trần, ấp Hòa Thạnh, xã Hòa Minh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
» 026. Họ Đặng (Đặng Văn Thành), ấp Láng Cát, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, TP.HCM
» 027. Họ Mai (Mai Văn Trí), ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM
» 028. Họ Phạm Duy ..., Quảng Trị
» 029. Họ Trần , ấp Hòa Thạnh, xã bình Minh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
» 030. Họ Trương (Trương Hồng Hoảnh), ấp Tân Thạnh, xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
» 031. Họ Ngô (Ngô An Hạ), xã Mỹ Lạc, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
» 032. Họ Phan (Phan Hữu Danh), ấp Lái Viết Ngọn, xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
» 033. Họ Bùi (Bùi Quốc Châu), cầu Ông Me Lớn, khóm 6, phường 4, thị xã Vĩnh Long
» 034. Họ Huỳnh (Huỳnh Chí Thắng), ấp bàu Cỏ, xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương
» 035. Họ Phạm (Phạm Chánh Trực), ấp 9, xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
» 036. Họ Lê (Lê Hồng Anh), ấp Hành Chánh, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liên
» 037. Họ Phan (Phan Văn Khải), xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP.HCM
» 038. Họ Bùi - Đồng Tháp
» 039. Họ Hồ (Huỳnh Thị Nở), xã Tân Thuận, huyện Nhà Bè, tỉnh Gia Định
» 040. Họ Đỗ (Đỗ Hoàng Hải), xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
» 041. Họ Phạm (Phạm Kiêm Tràng), làng Lương Quán, xã Thủy Biều, TP Huế
 
     


 

     
 
ĐẶT LÀM GIA PHẢ

 
Chúng tôi cung cấp dịch vụ làm gia phả cho dòng họ. Vui lòng liên hệ: giaphatphcm@gmail.com
 
 
     

     
 
THÔNG BÁO

 
Website gia phả thành phố hồ chí minh
Chi tiết »
 
     

     
 
QUẢNG CÁO
 
Trung tâm Gia phả
 
     

 

Trang Chủ | Giới Thiệu | Tin Tức | Kiến Thức | Tư Liệu | Tư Vấn | Diễn Đàn | Liên Hệ
Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả TP.Hồ Chí Minh