..:: HÁN NÔM TRONG GIA PHẢ ::..


Vài cảm nghĩ khi đọc số tư liệu Hán Nôm trong họ Lê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi
(2010-03-11)

Chữ Nho, một loại chữ tượng hình, được gọi thống nhất là văn tự Hán Nôm - đã từng trải qua thời gian dài là Quốc ngữ sử dụng chính thức trong toàn cõi Đại Việt Nam quốc sơn hà …

Điều đặc biệt là nó du nhập vào nước ta trong điều kiện bị cưỡng bách qua nền đô hộ của ngoại bang, nhưng tuyệt vời ở chỗ nó không bê nguyên xi nguồn gốc từ chánh quốc mà hoàn toàn biến chuyển 100% thuần túy Việt Nam về cách phát âm, không lệ thuộc vào ảnh hưởng ngoại lai, chứng tỏ một tinh thần dân tộc của con Hồng cháu Lạc đáng khâm phục.

Bản chất của văn tự Hán Nôm thì chữ nào nghĩa nấy thống nhất trong cả nước, nhưng qua quá trình lịch sử Nam tiến nhiều thời kỳ, bị ảnh hưởng của cư dân địa phương về phong tục tập quán, về thời tiết khí hậu của từng vùng miền, nên việc phân hóa trong nếp sống, trong giọng nói, trong danh xưng, trong các việc thiết thân ở cuộc sống hằng ngày nên từng miền Bắc Trung Nam phát sinh nhiều điều dị biệt.
Tôi, người dân Nam Bộ đã qua nhiều đời, rất dốt về văn hóa đời sống riêng biệt của mỗi vùng miền, nhưng mới đây có dịp nghiên cứu một số tư liệu Hán Nôm lưu trữ trong một họ tộc ở huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi, tôi đã học thêm được những điều thú vị, xin nêu lên để cùng chia sẻ, và thấy được những dị biệt ở mỗi miền.

Đã nhiều lần biên dịch văn hóa Hán Nôm lẻ tẻ, xong thì thôi, không có chút ấn tượng nào! Lần này thì khác, vì khối lượng đồ sộ của nó, có thời gian từ cuối thời Cảnh Hưng cho đến hết thời Bảo Đại qua đến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thời gian có hơn 200 năm. Gồm có các văn tự khế ước về ruộng đất, các bản tương phân tài sản, các vụ tranh tụng, bản kê khai ruộng đất, vận động đóng góp tiền bạc lo việc giỗ chạp, các đạo sắc phong v.v…

Xin trân trọng cảm phục những người đã có công bảo tồn, gìn giữ số tư liệu này kể cả những lúc nguy cơ chiến tranh, quê hương khói lửa.

Thuở đương thời, nó là những tư liệu mang tính pháp lý để xác nhận tư cách pháp nhân của vật sở hữu của một người; nhưng nay do thời thế đổi thay nó không còn chức năng đó nữa, nhưng nó lại mang một giá trị phi vật thể mà sau khi sắp xếp hệ thống theo trình tự thời gian thì bỗng nó hóa thành một chứng cứ để đánh giá là một họ tộc “dĩ nông vi bản”, đời sống khá giả với nền nông nghiệp lúa nước, lớp người có học thức, có vị trí nhất định trong làng xóm, có lịch sử truyền đời lâu dài, được mọi người trọng vọng, sớm thích nghi với mọi hoàn cảnh, từng thời kỳ, từng thế hệ tên tuổi mỗi người lần lượt hiện lên đã giúp cho ta hệ thống hóa được quan hệ thế thứ trong họ tộc một cách chính xác. Và cũng từ đó ta thống kê và làm rõ được những điều sau đây:

CÁC VĂN TỰ VỀ RUỘNG ĐẤT

Thường được gọi chung là văn khế, do vợ chồng người bán làm và ký tên, giao cho vợ chồng người mua giữ, có các loại: đoạn mãi, tuyệt mãi (bán đứt), mãi lai thục (bán nhưng được quyền chuộc lại) trong thời gian này có thể đòi thêm tiền nhiều lần. Hình thức chuyển thục hoặc lưu thục (chuyển cho người thứ ba) và phóng thục (trả tiền lấy ruộng lại).

Nội dung văn khế đại khái là tên vợ chồng người bán, nơi cư ngụ, có ruộng ở đâu? Diện tích, đông tây tứ cận, bằng lòng bán đứt cho vợ chồng ông B ở cùng xã, với số tiền là……. (nếu thục thì ghi là mãi lai thục số tiền là…… Khi nào có tiền thì đến chuộc lại) đề ngày tháng năm, vợ chồng người bán ký tên, điểm chỉ, có 2 người làm chứng ký tên, hoặc cũng có trường hợp “thiệt điền thiệt tiền vô nại chứng” (tiền, ruộng có rõ ràng khỏi cần chứng) người viết văn khế ký tên. Lý Trưởng chứng thực đóng dấu và chủ mua giữ văn khế là trọn quyền làm chủ từ nay! Cũng có thể kèm theo những tờ văn khế cũ mà miếng đất này đã qua tay nhiều người.

Cách đề ngày là ghi ngày tháng theo âm lịch, năm là ghi theo niên hiệu nhà vua đang trị vì vào năm thứ mấy? Ví dụ: Gia Long lục niên, bát nguyệt nhị thập tứ nhựt tức là ngày 24 tháng 8 năm Gia Long thứ 6, chuyển thành dương lịch là năm 1807, cũng còn may lấy theo niên hiệu nhà vua việc truy tìm sẽ đơn giản hơn là năm tính theo can chi thì sẽ vướng phải so sánh lục thập hoa giáp!

Cũng xin đừng thắc mắc về niên hiệu Cảnh Hưng của nhà Lê ở đàng ngoài, trong khi phủ Quảng Ngãi thuộc quyền cai trị của các chúa Nguyễn xứ đàng Trong đóng đô ở Phú Xuân, tuy là 2 bên đã đoạn giao nhau nhưng ta nên biết rằng suốt thời kỳ 9 chúa Nguyễn, trên mặt công văn giấy tờ đều sử dụng niên hiệu của nhà Lê.

VỀ ĐƠN VỊ ĐO ĐẠT RUỘNG ĐẤT

Trong các văn khế mua bán cầm thế ruộng đất ta thấy xuất hiện tên gọi mẫu sào thước tất phân ly, nay đem đối chiếu giữa ngày xưa với bây giờ rất là khác nhau, ta cũng cần tìm hiểu.

Vấn đề cân đong đo đếm ngày xưa rất phức tạp, ở đây ta chỉ tìm hiểu về đơn vị đo lường dùng trong địa bạ theo định chuẩn từ đầu triều Nguyễn.

Thuở ấy có 3 loại thước đo:   

- Thước đo chiều dài (mộc xích) đổi ra hệ mét là 0m.424

- Thước đo ruộng (điền xích) đổi ra hệ mét là 0m.4664

- Thước may (phùng xích) đổi ra hệ mét là 0m.636

Biểu đo diện tích bằng thước ruộng 0m.4664

Đơn vị  Rộng bằng  Mỗi cạnh  Đổi ra m2

Mẫu
Sào
Thước
Tất
Phân
Ly
Hào
Hốt
Ty
Khẩu
Than
Ghế
Gang

10 sào
15 thước
10 tấc
10 phân
10 ly
10 hào
10 hốt
10 ty

9 than
25 ghế
1 thước vuông
150th x 150th
15th x 150th
1th x 150th
1tấc x 150th
1ph x 150th
1ly x 150th
1hào x 150th
1hốt x 150th
1ty x 150th
15th x 15th
5th x 5th
1th x 1th
5tấc x 5tấc
4894,4016
489,44016
32,639344
3,263934
0,3263934
0,032639
0,003263
0,000326
0,000032
48,944016
5,438224
0,21752896
0,05438224

Năm 1897, Toàn quyền Đông Dương quyết định cho 1 thước ta bằng 0m.40 không phân biệt mộc xích, điền xích hay phùng xích. 1 mẫu bằng 3.600m2.

Đến năm 1930 ta vẫn còn thấy có 3 thứ đơn vị diện tích khác nhau:

- Mẫu ở Bắc Kỳ rộng 3.600m2

- Mẫu ở Trung Kỳ rộng 4.970m2

- Mẫu ở Nam Kỳ rộng 10.000m2 theo mẫu Tây.

Mẫu ở Bắc là theo quyết định 1897, mẫu ở Trung vẫn giữ nguyên thước định chuẩn từ trước thời Pháp, trung bình là 4.970m, nhưng có khi ở Quảng Nam là 4.865m, mà ở Quảng Ngãi là 7.000m2, và cũng do Sở Địa Chính chưa đo đạc tới Trung Kỳ. Còn ở Nam Kỳ theo chế độ thuộc địa đã đổi từ mẫu sang hécta 10.000m2.

Về mẫu trong địa bạ triều Nguyễn là lấy theo 1 cái thước có từ thời Lê để làm chuẩn gọi là quan điền xích (0m.4664) làm kích thước đo ruộng đất chung cho toàn quốc. (theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu).

CÁCH XƯNG HÔ TRONG HÔ TỘC

Thuở mới chào đời, người ta dù trai hay gái cũng được cha mẹ đặt cho một cái tên để gọi, nhà có học thức mang tên có ý nghĩa đẹp đẽ, nhà bình dân ít học thì tên đơn giản quê mùa, nhưng đó là cái tên ghi vào khai sanh, vào hộ tịch được pháp lý và xã hội công nhận.

Có điều lạ, không biết do tập quán hay lý do nào khác, cử tên do tôn trọng? mà khi đã trưởng thành có vợ con, thì người ta không gọi thẳng tên người đó nữa, mà gọi theo tên con. Đã từ rất lâu đời, ví dụ người có tên là Lê Vinh Huệ có con trưởng là Lê Vinh Thuận, sẽ được gọi là cha Thuận, về sau ông Thuận có con cũng được gọi theo tên con là cha Vận. Về người con gái khi về nhà chồng, thì tên cha mẹ đẻ cũng lùi vào dĩ vãng mà gọi người ấy theo tên chồng cho đến khi có con lại gọi theo tên con là mụ Thuận hay mẹ Thuận. Trường hợp bà con chú bác trong thân tộc cũng vậy, gọi bác hay chú cũng vẫn gọi theo tên con của người ấy.

Các văn tự liên quan đến ruộng đất, thường người ta cũng chỉ ghi vợ chồng cha Thuận là đủ, ngoại trừ những văn bản quan trọng như đơn kiện, hay tờ tương phân ruộng đất mới thấy có ghi: vợ chồng cha Thuận tức Lê Vinh Huệ đầy đủ.

Có lẽ do tôn trọng người lớn nên cử không dám gọi tên. Nên ngày nay người ta quên mất tên một số người do cha mẹ đặt ra, khiến cho việc lập gia phả, khắc mộ bia phải bị trở ngại. Và rồi những tư liệu lưu trữ sẽ phát huy tác dụng, người ta truy tìm vào đó sẽ có cơ may tìm lại được tên thật của người xưa một cách chính xác.

NHỮNG SỰ THAY ĐỔI XÃ, THÔN, HUYỆN, PHỦ

Ở đầu mỗi trang văn bản đều có ghi địa chỉ của người đứng tên, gồm có tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã thôn. Ta thấy từng thời kỳ, từng chế độ có sự thay đổi danh xưng khác nhau. Việc này cũng giúp ích cho ta biết được tên gọi của địa phương ấy qua từng thời kỳ cũng như sự xuất hiện đồng thời của từng thế hệ họ tộc nơi đó.

Căn cứ theo các văn bản cũ thì từ thời Cảnh Hưng, tỉnh Quảng Ngãi ngày nay gọi là phủ Quảng Ngãi, huyện là Mộ Hoa, xã là Long Phụng.

Thời Tây Sơn gọi là phủ Hòa Nghĩa, huyện Mộ Hoa, xã Long Phụng

Thời Nguyễn Gia Long phủ Hòa Nghĩa trở thành phủ Quảng Ngãi.

Thời Minh Mạng 13 đổi là phủ Tư Nghĩa.

Thời Thiệu Trị huyện Mộ Hoa đổi thành Mộ Đức.

Và trải qua 1 thời gian dài nó theo 1 hệ thống: tỉnh Quảng Ngãi, phủ Tư Nghĩa, huyện Mộ Đức, tổng Lại Đức xã Long Phụng, ta cũng lưu ý rằng xã, thôn, phường, châu, trại là 1 cấp Hành Chánh ngang nhau và là cấp cơ sở thấp nhất nơi địa phương đó.

Từ năm 1945 đến nay có nhiều lần tách ra, nhập vào, ngày nay không còn cấp phủ và tổng nữa, chỉ có tỉnh xuống huyện và xã. Mà huyện Mộ Đức và huyện Tư Nghĩa là đồng cấp cùng với các huyện khác trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi và xã Long Phụng đã thành xã Đức Thắng từ sau 1975.

Các tên gọi này nếu đem đối chiếu với các tư liệu về địa chính đã xuất bản thì hoàn toàn trùng khớp.

TỜ HÔN ƯỚC - MỘT TẬP TỤC ĐÁNG TRÂN TRỌNG

Lục lễ trong hôn nhân ngày xưa không thấy nói đến tờ hôn ước, có lẽ đây là 1 lệ thuần Việt mà riêng ta mới có. Hiện trong di sản Hán Nôm nhà họ Lê còn giữ 12 bản này, chứng tỏ đã có 12 người con gái xuất giá đàng hoàng.

Chữ hôn ước là do người viết tạm đặt, nó có tên là “Canh thiếp” hoặc hôn thiếp là 1 tờ giấy hồng điều khổ lớn, chữ bút lông mực Tàu bay bướm, nội dung sâu sắc, điển cố cao siêu, lời lẽ khiêm tốn nhã nhặn của một nhà khoa bảng đương thời, chắc chắn nó mang lại ấn tượng tốt đẹp trong đời người con gái kia.

Tờ hôn ước là do phía nhà trai viết sau khi đã nhờ mai mối đến hỏi và được nhà gái chấp thuận cho tiến hành các nghi thức dạm hỏi, trong đó có lần trao cho nhà gái tờ hôn ước trong lễ nạp tài, hoặc trước ngày rước dâu vài hôm.
Tờ giấy được bỏ vào phong bì, ngoài có đề chữ: “Hôn thiếp, giám nạp bất tuyên” có nghĩa là tờ thiếp đính hôn……Lời ít ý nhiều, xin thu nhận cho, trong đó nội dung đại khái:

“Gia quyến kẻ hèn họ nhà trai tên…… ở xã…… xin lập tờ hôn ước.

Trộm nghe rằng:

Bài hát hảo cầu, kinh Thi vịnh duyên trời tác hợp.

Lời vàng thân nghính, sách Lễ nhắc quân tử mối giềng.

Nhơn luân là đạo hàng đầu.

Vương hóa dựng xây nền móng.

Nay mong được:

Ông bà…… song khánh môn hạ, ở xã…… thuận lời mai mối, ưng gả trưởng nữ là……  về cho thứ nam…… làm vợ. Đến kỳ thân nghính, chọn được ngày lành, nộp nghi nhạn tệ đính ước Châu Trần.

Hai họ hòa duyên, điềm ứng chung tư trập trập.

Trăm năm bạc tóc, mộng lành hoa diệt miên miên.

Sính lễ đưa trình, ghi rõ dưới đây:

- Tiền sính lễ 100 quan, được thế bằng 3 sào ruộng ở xóm…… đông tây tứ cận giáp……

- Heo đen đóng củi 1 con (hoặc thế tiền 40 quan)

- Xuyến vàng 1 cặp

- Bông tai 1 đôi

- Áo lụa 1 đôi

- Trầu cau, rượu 1 mâm đủ lễ

- Tiền lan nhai (theo lệ địa phương)

Ngày…… tháng…… năm Duy Tân thứ tư.

Vợ chồng nhà trai ký tên, điểm chỉ.”

(Võ Văn Sổ lược dịch)

Đây là 1 sản phẩm của thời phong kiến, nhưng dù sao cũng là 1 cách làm khá nghiêm túc góp phần làm cho cuộc sống vợ chồng được hạnh phúc vững bền, riêng tôi thấy việc này là đáng trân trọng.

TỜ TƯƠNG PHẦN TÀI SẢN:

Đến tuổi về già, con cái đã trưởng thành, cơ ngơi do cả đời tâm huyết gầy dựng, đã đến lúc 2 vợ chồng phải đứng ra lập tờ phân chia của cải tài sản cho các con để tránh sự tranh chấp về sau, nếu bất ngờ ông chồng mất trước, thì bà vợ dựa theo lời dặn dò của ông, cùng các con đứng ra thuận phân với nhau, có sự chứng kiến của Hội Đồng Gia tộc và chánh quyền địa phương, bằng cách lập tờ phân chia rõ ràng:

• Phần hương hỏa, tọa lạc ở đâu, diện tích bao nhiêu, giao cho ai, dùng để hưởng hoa lợi và có nhiệm vụ cúng giỗ ông bà nào?

• Phần dưỡng lão, giao cho ai để nuôi nấng cha mẹ khi còn sống và giỗ chạp khi qua đời.

• Phân chia đồng đều cho các con, kể cả con gái đã có chồng.

• Phần để cúng giỗ những bà cô, ông mãnh chết trẻ.

• Phần nhà thờ, nhà ở kể cả đất.

Phần nào ở đâu, giao cho ai, viết đến đâu thì người đó ký nhận đến đấy, không được đổi ý, nếu làm khác đi thì mang tội bất hiếu, có luật pháp trừng trị, bao nhiêu người thì có bấy nhiêu bản, được các vị bô lão chứng thực và có Lý Trưởng ký tên đóng dấu xác nhận. Từ đó bản tương phân có giá trị thi hành.

CÁC LOẠI GIẤY TỜ KHÁC

+ Kê khai ruộng đất:

Vào năm Gia Long thứ 10, gia đình ông Lê Vinh Huệ và các con là Lê Vinh Thuận, Lê Vinh Châu vâng theo lệnh công đồng truyền, tiến hành lập bản kê khai ruộng đất thuộc sở hữu của mình, tọa lạc ở xóm nào, diện tích sào mẫu thước tấc bao nhiêu, tứ cận giáp những ai, hạng ruộng nào, viết làm 3 bản giáp, ất, bính để nộp về triều.

Theo tinh thần của bản kê khai này ta biết được đây là lần vua Gia Long chỉ dụ cho các trấn dinh trong toàn quốc, mỗi chủ sở hữu phải lập bản kê khai tỉ mỉ ruộng vườn mà mình sở hữu báo cáo lên. Sau đó có đoàn kiểm tra đo đạc nhiều người xuống khảo sát lại rồi ký tên thừa khảo, thừa hạch, thừa duyệt, mục đích là để lập sổ địa bạ chung cho toàn quốc, mãi cho đến năm 1836 công trình này mới hoàn tất, hiện nay chỉ còn giữ được là bản nộp về triều hiện do Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia bảo quản, còn bản ở làng và ở tỉnh đều thất lạc hết, trường hợp còn giữ được là ít có.
+ Đơn kiện:
Vào năm Gia Long thứ 2, ông Lê Vinh Thuận làm đơn thưa lên huyện, nguyên khoảng 30 năm về trước bà ngoại tôi có mua một miếng đất hứa chia đôi cho mẹ tôi và người cậu mỗi người một nửa, nhưng người cậu giữ văn khế và tự mình canh tác hết không chia phần cho mẹ tôi, xin quan trên xét xử.

Quan trên cho người về điều tra, bảo bà ngoại ông Thuận làm tờ tường trình rồi gọi 2 bên lên xét xử, ông Cậu thua kiện, chịu lỗi, trả lại nửa phần đất và 2 cậu cháu làm tờ cam kết giải hòa, hứa không còn hiềm khích nhau nữa.

+ Trong họ làm giấy đồng thuận đóng góp để lo việc tế Xuân Thu.

Vào năm Duy Tân 9 (1915) các vị kỳ lão họ Lê ở xã Long Phụng đồng thuận lập tờ giao ước lệ tế Xuân, Thu để cúng kỵ các vị cao tổ từ ngũ đại trở lên, trong năm có 2 lần cúng, tế Xuân vào tháng 3, tế Thu vào tháng 9, đóng góp bằng tiền hoặc bằng lúa, tùy ý nhiều hoặc ít, tiền có tên gọi là tiền lương bằng, lúa thóc đem bán lấy tiền cho vay lấy lãi để lo việc cúng tế.

Để minh bạch hóa về tiền bạc, của cải, người ta cử ra 2 chức việc:

1. Tư thơ, lo việc ghi chép giấy tờ sổ sách thu chi.

2. Tư hóa, lo việc cất giữ tiền bạc, thu bán lúa thóc, cho vay lấy lãi và mua sắm lễ vật cúng kiến.

Rồi đến năm 1945, Cách Mạng Tháng 8 thành công, Quảng Ngãi chưa bị giặc chiếm, từ những năm đầu trong họ Lê vẫn còn vài vụ mua bán đất đai với văn tự viết bằng chữ quốc ngữ a, b, c với tiêu đề Việt Nam Dân Chủ Công Hòa _ Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc… Rồi có lẽ toàn quốc kháng chiến bùng nổ, mọi người đều dốc hết tâm lực cho 9 năm kháng chiến, nên vấn đề của cải vật chất không còn là hàng đầu nữa.

KẾT LUẬN

Sau năm 1954, Quảng Ngãi nằm bên trong vĩ tuyến 17, thuộc chánh quyền miền Nam tạm quản, rồi chiến tranh chống Mỹ lại tiếp tục với một cường độ mạnh mẽ hơn. Quê hương Mộ Đức, có người kiên trì bám trụ, có người về phía bên này, cũng có kẻ ở phía bên kia, tạm ngưng mọi sinh hoạt thường nhật để ưu tiên lo kháng chiến cứu quốc, để kết thúc vào năm 1975 đất nước hoàn toàn hòa bình, độc lập, thống nhất. Và mọi người trở về tái tạo lại mầm xanh, trùng tu nhà từ đường, sửa sang phần mộ ông bà và mạnh dạn đi trên con đường đổi mới.

Chế độ tư hữu ruộng đất đã được xóa bỏ, văn tự chủ quyền đất đai ngày xưa không còn giá trị về mặt pháp lý nữa, nhưng nó đã biến thành một thứ của gia bảo quý giá không vàng bạc nào sánh bằng, vì khi ta lật lại từng trang bỗng như ta hình dung thấy bàn tay của ông bà đang ký tên, điểm chỉ vào đấy, mà nghĩ rằng bao đời ông bà đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt để gầy dựng một cơ ngơi cho con cháu mai sau, bất giác ta cảm phục và ghi ơn ông bà đã “tích âm đức ư minh minh chi trung dĩ di tử tôn, trường cửu chi kế”.

Thời đại ngày nay, xã hội đang đòi hỏi công bằng, dân chủ, văn minh hứa hẹn một tương lai giàu mạnh, con cháu họ Lê Vinh chúng ta có người vẫn bám sát quê hương, chăm sóc mồ mã ông bà, có người thành công trong sự nghiệp, có người là Tiến sĩ, Kỹ sư, có người là Cán bộ cấp cao, và cũng có người hiện sống khắp nơi trên thế giới mang trong mình dòng máu Lê Vinh để mà tự hào mình có một chiều dài phát tích dòng họ khá lâu đời, tự hào có vị tiền hiền khai khẩn Vệ Dương Tử Tướng Hầu Dực Bảo Trung Hưng … và trân trọng hứa rằng trong gia đình, ngoài xã hội, quyết không làm điều gì sái quấy để tủi hổ đến vong linh ông bà.

Ngày 28 tháng 11 năm 2009

Võ Văn Sổ

 
Các tin khác

» Di chúc của gia tộc ông Phan Thanh Quang bằng Hán - Nôm   10-06-2010
» CÁC VĂN CHỈ BẰNG CẤP KHẢO HẠCH VÀ BÀI THI ĐẠT HẠNG TÚ TÀI THỜI VUA DUY TÂN   09-06-2010
» Vài cảm nghĩ khi đọc số tư liệu Hán Nôm trong họ Lê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi   11-03-2010
» Vấn đề văn tự Hán Nôm   23-08-2009
 
 
     
 
     


 

     
 
ĐẶT LÀM GIA PHẢ

 
Chúng tôi cung cấp dịch vụ làm gia phả cho dòng họ. Vui lòng liên hệ: giaphatphcm@gmail.com
 
 
     

     
 
THÔNG BÁO

 
Website gia phả thành phố hồ chí minh
Chi tiết »
 
     

     
 
QUẢNG CÁO
 
Trung tâm Gia phả
 
     

 

Trang Chủ | Giới Thiệu | Tin Tức | Kiến Thức | Tư Liệu | Tư Vấn | Diễn Đàn | Liên Hệ
Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả TP.Hồ Chí Minh