..:: Tin Tức Trung Tâm ::..


Vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam
(2010-08-06)

 Nghiên cứu Hán Nôm có một vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, điều đó ai cũng thừa nhận. Nhưng đối tượng của nghiên cứu Hán Nôm là gì? Vai trò của việc nghiên cứu Hán Nôm quan trọng như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam?

Nghiên cứu Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam có gì khác biệt với nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu báo chí và văn học quốc ngữ? Đó là những vấn đề tôi muốn đặt ra và, trong một chừng mực nhất định, cố gắng làm sáng tỏ vấn đề theo cách nhìn và sự hiểu biết của tôi. Những ý kiến của tôi là những gợi ý để mời gọi các nhà nghiên cứu tham dự cuộc hội thảo khoa học này phát biểu thêm nhằm đi tới cái nhìn chung, tiếng nói chung bao quát và đầy đủ hơn về vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

1.     Đối tượng của nghiên cứu Hán Nôm

           1.1. Việc sử dụng chữ Hán và chữ Nôm trong quá khứ

           Chữ viết là hệ thống ký hiệu để ghi chép ngôn ngữ. Trước thời Bắc thuộc, người Việt có chữ viết hay không, hiện nay không thấy dấu vết gì còn truyền lại. Theo Vương Duy Trinh, tác giả sách Thanh Hóa quan phong, thì nước ta thời cổ đã có chữ viết và đó là thứ chữ mà người Mường ở Thanh Hóa hiện nay còn dùng [1]. Tuy nhiên, đó chỉ là sự suy đoán, cho đến nay chúng ta không tìm thấy một tự tích nào khả dĩ chứng thực cho giả thuyết ấy.

           Đến khi nước ta bị Trung Quốc thống trị, từ năm 111 trước Tây lịch, tức từ Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức đem quân sang xâm lược, cho mãi đến năm 938, khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, người Trung Quốc đã đem văn hóa của họ, trong đó có chữ Hán, phổ biến ở nước ta. Từ 939, Ngô Quyền xưng vương, mở ra kỷ nguyên độc lập  tự chủ cho nước ta, cho đến khi nước ta bị người Pháp thống trị (ở Nam Kỳ từ 1867, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ 1883), chữ Hán vẫn được tiếp tục dùng như văn tự chính thức của quốc gia.

           Đến đời Trần (thế kỷ 13), chữ Nôm (thứ chữ do nhân dân ta vận dụng chữ Hán mà chế tác ra để ghi tiếng nói của dân tộc) bắt đầu được dùng để sáng tác thơ văn quốc âm, rồi dần dần thịnh hành, tồn tại và phát triển song song với chữ Hán.

           Từ khi người Pháp đặt nền thống trị trên đất nước ta, chữ quốc ngữ Latinh và chữ Pháp dần dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Năm 1915, bỏ thi chữ Hán ở Bắc Kỳ, đến năm 1918 bỏ thi chữ Hán ở Trung Kỳ. Tuy nhiên, chữ Hán và chữ Nôm vẫn được dân chúng tiếp tục dùng để ghi chép, sáng tác cho đến khoảng giữa thế kỷ 20 với một phạm vi và mức độ thu hẹp dần, mà tác phẩm Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh xuất hiện khoảng 1942-1943 được coi như cái mốc cuối đánh dấu sự cáo chung của chữ Hán và chữ Nôm.

           Tóm lại, chữ Hán đã được nhân dân ta dùng làm phương tiện ghi chép trong hơn 2000 năm, còn chữ Nôm thì được sử dụng  khoảng 700 năm. Chữ Hán và chữ Nôm đã có một quá trình sử dụng lâu dài như thế, nên kết quả là tiền nhân ta đã để lại một thư tịch Hán Nôm rất quan trọng.

           1.2. Số lượng và chủng loại của thư tịch Hán Nôm

           Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội hiện quản lý 5.038 đầu sách và khoảng 30.000 đơn vị tư liệu bao gồm các loại như phim, ảnh, bản rập các bài văn khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá, biển gỗ [2]. Đó là chưa kể những sách Hán Nôm, Châu bản triều Nguyễn [3], địa bộ [4], sắc thần, bia đá, thơ, câu đối, hoành phi v.v… hiện còn rải rác trong dân chúng, ở các cung điện, lăng tẩm, đình chùa, các thư viện và cơ quan lưu trữ khác ở trong nước, các thư viện ở nước ngoài.

           Về chủng loại, trước kia Lê Quí Đôn, rồi Phan Huy Chú, do chịu ảnh hưởng cách phân loại theo tứ bộ là kinh, sử, tử, tập của thư tịch Trung Quốc, đều chia thư tịch Hán Nôm ra làm 4 loại, sau đó học giả người Pháp là Emile Gaspardone cũng phân chia như vậy, nên không thấy được sự phong phú và đa dạng của di sản Hán Nôm [5]. Trần Văn Giáp, trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, với vỏn vẹn 428 đầu sách được giới thiệu, đã chia sách Hán Nôm ra làm 8 loại: 1. Lịch sử (số 1 – 165) 2. Địa lý (số 166 – 202) 3. Kỹ thuật (số 203 – 212) 4. Ngôn ngữ (số 213 – 226) 5. Văn học (số 227 – 377) 6. Tôn giáo (378 – 391) 7. Triết học (số 392 – 411) 8. Sách tổng hợp (số 412 – 428) [6]. Theo Trần Nghĩa và F. Gros, trong số 5.038 đầu sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, có khoảng:

           2.500 tác phẩm liên quan tới văn học;

           1.000 tác phẩm liên quan tới sử học;

           600 tác phẩm liên quan tới tôn giáo;

           450 tác phẩm liên quan tới văn hóa, giáo dục;

           350 tác phẩm thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội;

           300 tác phẩm thuộc các lĩnh vực y dược, vệ sinh;

           300 tác phẩm thuộc lĩnh vực địa lý;

           250 tác phẩm thuộc lĩnh vực pháp chế;

           80 tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật;

           70 tác phẩm thuộc lĩnh vực kinh tế;

           60 tác phẩm thuộc các lĩnh vực ngôn ngữ, văn tự;

           50 tác phẩm thuộc lĩnh vực toán lý;

           40 tác phẩm thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, và một số lượng ít hơn bàn về kiến trúc, nông nghiệp, tiểu thủ công, hoặc mang tính tổng hợp.

           1.3. Đối tượng của nghiên cứu Hán Nôm


           Nghiên cứu Hán Nôm chính là nghiên cứu toàn bộ thư tịch Hán Nôm ở trong nước và nước ngoài, và tất cả các sắc thần, hương ước, bia đá, chuông đồng, khánh đá, thơ, câu đối, hoành phi, biển gỗ v.v… bằng chữ Hán và chữ Nôm hiện còn ở các cung điện, đền đài, lăng tẩm, đình chùa, miếu vũ.

           2. Vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam

           2.1. Toàn bộ tư liệu Hán Nôm là di sản văn hóa vô cùng quí báu của nhân dân ta

           Toàn bộ tư liệu Hán Nôm, bao gồm thư tịch và các loại khác như châu bản, địa bộ, sắc thần, hương ước, bia đá, chuông đồng, khánh đá, câu đối, hoành phi, biển gỗ v.v… là di sản văn hóa thành văn vô cùng quí báu mà tổ tiên ta từ nhiều thế hệ trước để lại. Đó là nguồn thông tin phong phú và đa dạng về nền văn hóa trong quá khứ của dân tộc ta, phản ánh tư duy khoa học và văn học nghệ thuật, tổ chức làng xã, sinh hoạt xã hội… của tiền nhân ta.

           2.2. Nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu báo chí và văn học quốc ngữ đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam

           2.2.1. Văn hóa dân gian

           Văn hóa Hán Nôm là văn hóa bác học. Bên cạnh dòng văn hóa thành văn này, còn có một dòng văn hóa khác hình thành từ thời tiền sử, khi người Việt chưa có chữ viết, đó là văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian kế thừa những truyền thống văn hóa cộng đồng từ lâu đời, tồn tại và phát triển trong dân gian, trong các cộng đồng làng xã, bao gồm văn học dân gian truyền khẩu (các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ…), các tục thờ cúng (tín ngưỡng dân gian), các lễ hội, dân ca (dân ca Quan họ, hò Huế, dân ca Nam Bộ…), sân khấu dân gian (hát chèo, múa rối nước…), phong tục tập quán, các làng nghề truyền thống, ẩm thực, trang phục, nhà ở… Văn hóa dân gian không ngừng phát triển qua sự giao lưu với các nền văn hóa khác trong khu vực và trên thế giới, và tiếp thu những giá trị mới, đồng thời điều chỉnh và cách tân những giá trị đã có cho phù hợp với những biến đổi của xã hội.

           2.2.2. Báo chí và văn học quốc ngữ

           Tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo, số 1 ra ngày 15-4-1865. Sau đó hơn 20 năm, cuốn tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên là Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, xuất bản năm 1887. Như vậy, báo chí và văn học quốc ngữ hình thành từ nửa sau của thế kỷ 19, tính đến nay chưa tới 150 năm. Tuy bề dày lịch sử kém xa thư tịch Hán Nôm, nhưng báo chí và văn học quốc ngữ phát triển mạnh mẽ, phong phú và đa dạng, phản ánh rõ nét văn hóa Việt Nam từ buổi đầu thời kỳ thuộc Pháp trở đi.

           2.3. Vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam

           Nhà nghiên cứu tùy theo sở học, có thể tiếp cận văn hóa Việt Nam qua nghiên cứu tư liệu Hán Nôm, nghiên cứu văn hóa dân gian hoặc nghiên cứu báo chí và văn học quốc ngữ. Cả ba cách tiếp cận ấy bổ sung cho nhau và cho ta cái nhìn toàn diện và xuyên suốt về văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay trong khi dòng văn hóa dân gian và dòng văn hóa quốc ngữ đang tồn tại và phát triển như một thực thể sinh động, thì văn hóa Hán Nôm chỉ tồn tại như một di sản, mang tính lịch sử và “định hình”, đóng khung trong các tư liệu.

           Qua phân loại 5.038 đầu sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm vừa nêu trên, chúng ta thấy nội dung thư tịch Hán Nôm bao quát mọi lĩnh vực của văn hóa Việt Nam. Ngày nay, chỉ có một số rất ít người đọc được chữ Hán và chữ Nôm. Vì thế, vai trò của nghiên cứu Hán Nôm là phải kịp thời khai thác di sản văn hóa này bằng cách phiên dịch các tư liệu chữ Hán, phiên âm các tư liệu chữ Nôm, chú thích, tìm hiểu và công bố cho quần chúng độc giả. Nghiên cứu di sản văn hóa Hán Nôm chính là bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam, vốn quí của dân tộc. Nghiên cứu Hán Nôm sẽ bổ sung cho nghiên cứu văn hóa dân gian, đồng thời tiếp thêm bề dày lịch sử cho văn hóa quốc ngữ. Nếu không có di sản văn hóa Hán Nôm, làm sao chúng ta có thể tự hào dân tộc ta có trên một ngàn năm văn hiến [7]? Hơn nữa, việc nghiên cứu Hán Nôm còn biểu lộ sự trân trọng đối với di sản tinh thần của tiền nhân ta, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, một điều rất quan trọng trong tiến trình nước ta hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mặt khác, những thành tựu của nghiên cứu Hán Nôm sẽ là cơ sở khoa học và là tư liệu cần thiết cho các ngành nghiên cứu văn học, ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa Việt Nam.

           Để kết luận, trước hết tôi muốn nhân đây đính chính một sự ngộ nhận về ngành đào tạo Hán Nôm. Một số người vì thấy ngành đào tạo Hán Nôm có những môn học giống với Trung Quốc học và ngữ văn Trung Quốc, nên lầm tưởng ngành Hán Nôm đại khái cũng giống hai ngành này. Thật ra, qua phần trình bày ở trên, ta thấy Hán Nôm học có đối tượng, vai trò và ý nghĩa khác hẳn với Trung Quốc học nói chung và ngữ văn Trung Quốc nói riêng, mặc dù giữa hai ngành học này có quan hệ về tri thức liên ngành.

           Trong xu thế công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, số người quan tâm đến di sản văn hóa Hán Nôm ngày càng ít. Vì thế, tôi thiết tha đề nghị Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và trực tiếp là trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn tạo điều kiện thuận lợi cho ngành đào tạo Hán Nôm phát triển và có những biện pháp thiết thực để khuyến khích sinh viên đi vào con đường nghiên cứu Hán Nôm. Đồng thời ngành đào tạo Hán Nôm cũng cần có những cải tiến để thích ứng với xu thế của thời đại.

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Xem Vương Duy Trinh, Thanh Hóa quan phong, Hải Dương, Liễu Văn Đường, khắc in năm Giáp Thìn (1904), tờ 69b-70a.

[2] Xem Trần Nghĩa và F. Gros (đồng chủ biên), Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, 3 tập; tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 23-24.

[3] Châu bản triều Nguyễn, tức Hoàng triều châu bản 皇朝硃本, 602 tập, gồm những tài liệu của nội các (văn thư phòng, ngự tiền văn phòng) và của các bộ, các tỉnh từ triều Gia Long đến triều Bảo Đại (1802-1945) với đủ các loại dụ, chiếu, chỉ, sắc, tấu, khải, biểu v.v…, hiện tàng trữ tại Kho Lưu trữ Trung ương.

[4] Triều Nguyễn đã tiến hành đo đạc ruộng đất các xã thôn ba miền (1805-1873) và lập thành những tập địa bộ, hiện Kho Lưu trữ Trung ương còn giữ được 10.044 tập, gồm địa bộ miền Bắc với 4.296 tập, địa bộ miền Trung với 5.264 tập và địa bộ miền Nam với 484 tập.

[5] Bốn loại theo Lê Quí Đôn: 1. Hiến chương 2. Thi văn 3. Truyện ký 4. Phương kỹ (Nghệ văn chí – Lê triều thông sử, qu. 3, 1759); theo Phan Huy Chú: 1. Hiến chương 2. Kinh sử 3. Thi văn 4. Truyện ký (Văn tịch chí – Lịch triều hiến chương loại chí, qu. 42-45, 1821); theo E. Gaspardone: 1. Gouvernement 2. Histoire 3. Littérature 4. Légendes, Confucéisme, Bouddhisme, Traités divers (Bibliographie annamite, BEFEO, 1934).

[6] Xem Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 1, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1984; tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990.

[7] Văn hiến: Chu Hi giải thích: 文典籍也獻賢也 Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã (Văn là sách vở; hiến là người hiền tài). Một trong hai điều kiện của văn hiến là điển tịch. Điển tịch Hán Nôm hình thành từ đời Lý (1009-1225).

Nguyễn Khuê  (Theo khoavanhoc-ngonngu.edu.vn)

 
Các tin mới

» TP.HCM TƯNG BỪNG LỄ HỘI LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ 2017   07-04-2017
» KHAI MẠC LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ TP.HCM 2017   06-04-2017
» LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ LẦN 1 - 2017 TẠI TP.HCM   04-04-2017
» LẦN ĐẦU TIÊN TỔ CHỨC LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ TP.HCM   29-03-2017
» TRƯNG BÀY HƠN 100 BỘ GIA PHẢ TRONG LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ   29-03-2017
» TP.HCM LẦN ĐẦU TIÊN TỔ CHỨC LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ   29-03-2017
» CHÚC MỪNG SINH NHẬT GS MẠC ĐƯỜNG   26-09-2015
» VIỆN LỊCH SỬ DÒNG HỌ: HAI NĂM ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN   26-09-2015
» HỘI NGHỊ GIA PHẢ HỌC VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ CỦA DÒNG HỌ   02-09-2015
» HỘI NGHỊ THÔNG BÁO GIA PHẢ HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT - 2015   30-08-2015
» CỦNG CỐ ĐẠO ĐỨC DÒNG HỌ - GÓP PHẦN GIẢM TỘI ÁC   15-08-2015
» Tọa đàm khoa học - Danh tướng Nguyễn Tri Phương qua góc nhìn gia phả học   10-04-2015
» ƯU VIỆT CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM   10-01-2015
» ĐỀ CAO TÍNH NGƯỠNG THỜ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG VÀ THỜ CÚNG TỔ TIÊN   08-05-2013
» TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG CỦA TTNC & TH GIA PHẢ VÀ CHI HỘI GIA PHẢ TPHCM NĂM 2012   08-05-2013
» Hội thảo khoa học trong ngày tổng kết   08-05-2013
» Lịch của Vietkings   19-02-2013
» Gia phả họ Trần - Tác phẩm hiếu tình dâng tặng GS Trần Văn Giàu   26-12-2012
» Trong nền văn hóa dân tộc   19-10-2012
» Gia phả học cho mọi gia đình   18-10-2012
» Vài suy nghĩ về mối quan hệ gia tộc và thành viên gia tộc Việt Nam   18-10-2012
» 20 năm hình thàng và phát triển của Trung tâm Nghiên cứu và Thức hành Gia phả TP.HCM (1992-2012)   18-10-2012
» Tổng kết 20 năm: Hoạt động bền bĩ, liên tục, kết quả đạt được to lớn vượt bậc của Chi hộ và TT Nghiên cứ và Thực hành Gia phả TP.HCM   18-10-2012
» Sở VH,TT&DL Long An tặng bằng khen cho Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM   17-10-2012
» 20 năm dựng 130 bộ gia phả   15-10-2012
» Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM đã xây dựng được 130 bộ gia phả   15-10-2012
» Lập gia phả cho nhiều nhà lãnh đạo và cách mạng   15-10-2012
» Trao gia phả Trần Văn Giàu nhân ngày truyền thống ngành Văn hóa thông tin   15-10-2012
» Tiêu chí xây dựng dòng họ văn hóa   04-07-2012
» Các dòng họ Việt Nam là dòng họ ưu việt...   21-05-2012
» Nhà mồ giữa thành phố   28-04-2012
» Buổi ra mắt Câu lạc bộ “Tuổi trẻ với dòng họ - gia phả”   06-04-2012
» Về vấn đề xây dựng văn hóa dòng họ   07-03-2012
» Nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải phát biểu tại lễ trao tặng gia phả   05-03-2012
» 11 họ tộc ở TP HCM được tặng gia phả   05-03-2012
» Đọc lịch sử từ gia phả   05-03-2012
» Trao tặng gia phả cho 11 chi họ xã anh hùng   05-03-2012
» Tặng gia phả cho11 dòng họ   19-02-2012
» Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải: Trao gia phả cho các dòng họ của xã anh hùng   19-02-2012
» Tổng kết lớp tập huấn về phương pháp dựng phả   02-02-2012
» Góp phần xây dựng dòng họ văn hóa tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP.HCM   22-12-2011
» Cổ vũ mạnh mẽ những ý tưởng sáng tạo   18-12-2011
» Những "bí mật" về hệ gene của con người   06-07-2011
» Dòng họ "tay vượn"   25-06-2011
» Ngày hội sản phẩm dịch vụ văn hóa 2011 - Nhiều người quan tâm gia phả   16-06-2011
» Vài suy nghĩ về vai trò của văn hóa gia đình, văn hóa dòng họ trong công cuộc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam   15-06-2011
» Ngày Bác đến Trường Dục Thanh   30-05-2011
» MỘT THIẾT CHẾ VĂN HÓA DÒNG HỌ ĐÃ ĐỊNH HÌNH   27-04-2011
» Hướng dẫn hoạt động hội đồng gia tộc ở các xã ấp   09-04-2011
» Mỗi chi họ trong cùng một họ hãy truy tìm, liên kết, nhận họ nhau   22-02-2011
» Thượng tướng Phan Trung Kiên nói về vai trò dòng họ trong cách mạng Việt Nam   22-02-2011
» Xây dựng văn hoá nghề nghiệp   11-02-2011
» Trung tâm Nghiên cứu & Thực hành Gia phả TP.HCM tổng kết năm 2010   17-12-2010
» Dựng gia phả cho nhân vật lịch sử và cộng đồng   11-12-2010
» Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập   10-12-2010
» Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi   10-12-2010
 
các tin cũ
 
» Tinh thần hiếu học - Một giá trị tiêu biểu của văn hoá Bắc Miền Trung   31-07-2010
» SẮC CHỈ VỊ THÀNH HOÀNG ĐÁNH RƠI   31-07-2010
» MỘT SỐ PHONG TỤC CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI ĐẠI CHỐNG BẮC THUỘC   23-07-2010
» VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ DÒNG HỌ TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ HIỆN NAY   23-07-2010
» Chuyện họ của Hai Bà Trưng   10-07-2010
» Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam   10-07-2010
» Bữa cơm gia đình   03-07-2010
» Bửa cơm gia đình trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam   03-07-2010
» TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG (KHẢO SÁT ĐỊA BẠ LÀNG VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)   01-07-2010
» LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KINH (VIỆT) Ở TRUNG QUỐC   01-07-2010
» Suy nghĩ khái niệm gốc Việt   18-06-2010
» Mối quan hệ cá nhân - gia đình trong bối cảnh Việt Nam đi vào toàn cầu hóa   12-06-2010
» Vai trò của gia đình và văn hóa gia đình   12-06-2010
» Chính thức khởi công xây dựng Nhà Tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát   09-06-2010
» Hội nhập với thế giới và bản sắc văn hóa gia đình Việt Nam   09-06-2010
» Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28.6.2001-28.6.2007): Gia đình Việt Nam thời kỳ hội nhập   09-06-2010
» Văn hóa dòng họ đang lên ngôi   18-05-2010
» HỌ HUỲNH Ở BÌNH TRỊ ĐÔNG A - NHỮNG NGƯỜI CHA VÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG   25-04-2010
» Người đại diện Trung tâm gia phả ở các tỉnh, thành phố   03-03-2010
» Tổng kết hoạt động Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM năm 2009 và phương hướng hoạt động năm 2010   03-03-2010
» GIA PHẢ TỘC LÊ THÔN PHÚ XUÂN, XÃ ĐÔNG Á, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH VÀ Ý KIẾN CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ TP.HCM   29-12-2009
» THỬ NHÌN LẠI CÁCH GHI ĐỊA DANH BẰNG CHỮ HÁN   19-12-2009
» Dòng họ muốn phát triển vững chắc phải thực hiện sự đoàn kết thống nhất và tôn trọng luật pháp Nhà nước   07-12-2009
» Gian nan trong khâu điền dã   07-12-2009
» Vài kinh nghiệm khi làm phả hệ   07-12-2009
» Tham luận về Hán Nôm: Một số hiểu biết về Hán - Nôm   06-12-2009
» Dựng gia phả cho toàn họ tộc được không?   06-12-2009
» Tạo cơ chế kích thích nhu cầu hiểu chữ hán - Nôm trong nhân dân qua hoạt động gia phả   06-12-2009
» Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên   25-10-2009
» Trao giả phả cho họ Bùi (Vĩnh Long)   18-10-2009
» Từ đâu để có nội dung cho gia phả?   09-10-2009
» Hôn nhân là qui luật phát triển của dòng họ   09-10-2009
» Đồng mả nông thôn Nam bộ   09-10-2009
» Đồng mả nông thôn Nam bộ   30-09-2009
» Tương lai rạng rỡ của sự nghiệp dựng phả các dòng họ Việt Nam   27-09-2009
» Quá trình của việc lập gia phả trong xã hội Việt Nam   21-09-2009
» Về người viết gia phả lớn nhất nước Việt   21-09-2009
» Đưa gia phả lên mạng   21-09-2009
» Gia phả nét văn hóa các dòng họ Việt Nam   17-09-2009
» Hôn nhân là qui luật phát triển dòng họ   17-09-2009
» Cần có trung tâm phả học Việt Nam   17-09-2009
» Các vấn đề rút ra qua 17 năm dựng phả cho các chi họ   30-08-2009
» Trung tâm nghiên cứu thực hành gia phả TP.HCM giúp nhận được họ qua gia phả cổ   30-08-2009
» Sự nghiệp dựng phả các dòng họ là thiêng liêng và khoa học   23-08-2009
» Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam   23-08-2009
» Dự báo hôn nhân và gia đình trong tương lai   23-08-2009
» Gia phả với ngày gia đình Việt Nam   23-08-2009
» Theo chân những người "vạch bóng thời gian tìm nguồn cội"   21-07-2009
» Gia phả - hồi ký: chứng tích của sự có mặt   21-07-2009
» Dựng gia phả để nghiên cứu lịch sử   21-07-2009
» Những ông đồ Sài Gòn đi... làm gia phả   21-07-2009
» Dựng phả, một dịch vụ hấp dẫn   21-07-2009
» Nhân ngày Gia đình Việt Nam 28.6: Bàn về đạo gia đình, đạo họ hàng   21-07-2009
 
     
 
     


 

     
 
ĐẶT LÀM GIA PHẢ

 
Chúng tôi cung cấp dịch vụ làm gia phả cho dòng họ. Vui lòng liên hệ: giaphatphcm@gmail.com
 
 
     

     
 
THÔNG BÁO

 
Website gia phả thành phố hồ chí minh
Chi tiết »
 
     

     
 
QUẢNG CÁO
 
Trung tâm Gia phả
 
     

 

Trang Chủ | Giới Thiệu | Tin Tức | Kiến Thức | Tư Liệu | Tư Vấn | Diễn Đàn | Liên Hệ
Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả TP.Hồ Chí Minh