..:: Tin Tức Trung Tâm ::..


Tham luận về Hán Nôm: Một số hiểu biết về Hán - Nôm
(2009-12-06)

Mãi cho đến khi gia nhập vào nhóm gia phả từ những năm 1990 tôi mới có cơ hội ôn luyện lại vốn chữ Nho ít ỏi mà mình đã được học từ thuở thiếu thời.

 

Trong lĩnh vực thực hành gia phả, không thể thiếu việc hiểu biết về chữ Nho mà ngày nay người ta gọi là văn tự Hán Nôm – vì nó đòi hỏi phải giải mã các bộ gia phả cổ, các bài vị, mộ bia của người quá cố nằm dưới mộ.

Cũng không riêng vì bài vị, mộ bia đòi hỏi, mà trong ngành gia phả mà nó còn đòi hỏi lan sang mặt lịch sử, địa lý, văn chương, điển cố, thơ văn, biến đổi đầy rẩy trong phạm vi đặc thù của ngành này; cho nên không những chỉ cần biết chi, hồ, giả, dả … Mà còn phải có một sự hiểu biết nhất định nào đó về loại văn tự này.
Tuy là thứ chữ được du nhập từ thời Bắc thuộc, nhưng nó sớm được Việt hoá trăm phần trăm, trở thành thứ ngôn ngữ nước nhà đã hội tụ lâu dài trong nền văn hoá chúng ta trước khi có chữ quốc ngữ theo vần La tinh mà hiện ta đang dùng. Ta vẫn thấy nó xuất hiện trước mắt ta hàng ngày ở trong những ngôi nhà cổ, trong đình làng, chùa miếu, ở nhà thờ các họ tộc và khối lượng đồ sộ văn bản, sách vở đang được lưu trữ ở các thư viện, các trung tâm, các nhà bảo tàng, kể cả trong nhà tư nhân và các hiệu sách cũ.
Về những bộ gia phả cổ :
* Gia phả họ Vũ ở Mộ Trạch có tên là Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích, gồm hai quyển thượng, hạ phân ra làm 5 chi 8 phái kể từ ông thủy tổ Vũ Hồn, An Nam Đô Hộ Sứ nhà Đường ở lại Việt Nam, nối dõi miêu duệ tới ngày nay, trong đó ta thấy họ Vũ Mộ Trạch là một “ổ Tiến sĩ”. Họ thi đỗ và làm quan từ thời nhà Trần cho đến thời Lê Trịnh, có người là nhà sử học, có người là Trạng vật, Trạng Cờ, Trạng Toán, Trạng ăn, có người dám bẻ cổ gà chọi của Chúa Trịnh, ra làm quan đi thi là đậu khiến giám khảo trường thi nghi ngờ, cho đào hầm bắt sĩ tử ngồi viết bài để tránh sự ném phao. Kết cuộc họ Vũ vẫn thi đổ, việc cháu ngoại Lê Quang Bí đi sứ Trung Quốc bị lưu giữ suốt 18 năm, chuyện Vũ Trác Oánh làm loạn chống lại triều đình, kể cả việc không đẹp như giao tiếp với người ở đến có thai, chuyện kiện thưa tranh giành ruộng đất. Gia phả còn chép rất nhiều bài thi phú liễn đối khi trà dư tửu hậu của các vị họ Vũ.
* Bộ gia phả Thừa Thiên Minh Hương Trần tộc chánh phả, viết về gia tộc của quan Thượng thư Chánh đại thần Trần Tiển Thành, có tổ tiên là người Trung Hoa sang Việt Nam, và ra làm quan triều Nguyễn nhiều đời. Trần Tiển Thành vì ông có nhiều công lao nên được phong chức lớn và ban cho chữ đệm trong họ tên các đời, người ta vẫn giữ cho đến ngày nay, giống như họ Mạc ở Hà Tiên cũng được ban cho chữ đệm. Quan Phụ Chánh Trần Tiển Thành sau bị đám loạn thần giết chết.
* Bộ gia phả họ Trương gia từ đường thế phả toàn tập, bản viết tay cũng xuất xứ từ thư viện ra. Đây là bộ gia phả của tộc họ Trương Minh Giảng, được viết với nhiều chi tiết rõ ràng nhất, từ ông tổ đầu tiên ở Quy Nhơn vào định cư ở Hanh Thông xã Gia Định trong thời nội chiến Tây Sơn, Nguyễn Ánh. Đây là gia phả của họ tộc Trương Minh Thành, Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Trương Minh Đạt tức Hòa Thượng Thích Thiện Hào. Ông tổ sanh ra bốn con trai được xếp thành bốn chi là Bá, Trọng, Thúc, Quý mà ngày nay con cháu ai cũng đều thuộc lòng mình thuộc chi nào. Tất cả con trai đều lót duy nhất một chữ Minh, tất cả mọi người đều ghi đầy đủ năm sanh, năm mất, ngày giỗ, mộ táng ở phía nào của nhà thờ, con gái gả về cho ai ? ở đâu ? con dâu là con ai, người ở địa phương nào ?
Nhà từ đường hàng năm có hai lễ giỗ, là ngày kỵ ông tổ cúng mặn, ngãy kỵ bà tổ cúng chay.
Điểm đặc biệt là nhà từ đường, còn lưu giữ 150 bài vị của thân tộc họ Trương các chi tiết đều trùng khớp với gia phả đã ghi.
Về hoành phi, liễn đối :
Liễn đối là một dạng thức văn hoá phi vật thể, luôn luôn là một đôi, có ngắn, có dài theo luật bằng trắc và đối nhau từng chữ, từng từ có khoán thủ, khoán tâm, khoán vỹ, có song quan, cách cú, nội dung mang đậm chất văn chương và ý nghĩa áp dụng đúng theo đối tượng mà nó phục vụ.
Người ta có thể chạm khắc gỗ, sơn son thiếp vàng, cẩn xà cừ khắc lên đá granite, đắp nổi bằng xi măng, vẽ lên kiếng thủy tinh hoặc đơn giản hơn là viết mực tàu lên vải, lên giấy hồng điều; khắc lên thành mộ v.v… Kiểu chữ thì chân, thảo, triện, lệ đều xử dụng được chủ yếu phải là chữ tốt văn hay, ngày nay người ta còn dùng cả chữ Việt.
Về công dụng, thoạt nhìn nó như món đồ trang trí, nhưng đem lại giá trị văn hoá không ít đến người đương thời, bởi nếu liễn ở nhà thì ghi nhận công ơn tổ tiên, làm người phải biết tu tề trị bình, trung hiếu tiết nghĩa, huynh hữu đệ cung, siêng học siêng làm, giữ gìn gia phong gia giáo v.v…
Ở nơi công sở làng và nhà vuông ấp thì liễn đối mang ý nghĩa thực thi công pháp ngay thẳng liêm chính, dân làng yên ổn, thuế má dồi dào, nước mạnh dân giàu; ngày nay xem như hòan thành nhiệm vụ.
Nơi đình làng thờ vị thần thay mặt nhà vua để bảo vệ nhân dân được thái bình thịnh trị, vũ thuận phong điều. Đình được xem là một thiết chế văn hoá dân giáo mang nặng tính chất nông nghiệp, mỗi làng là một đình và có sắc phong.
Các di sản Hán Nôm ở đình như liễn đối, thần tích, thần sắc đều mang đậm ý nghĩa ghi nhớ công ơn thần, mong được gió hòa mưa thuận, vật phụ dân an, mùa màng thắng lợi, dân tình ấm no hạnh phúc.
Ngày nay đình làng được bảo lưu và Ban Quản Trị thường xuyên chăm sóc, sửa chữa, làm mới liễn đối hoánh phi, hàng năm tổ chức lễ Kỳ Yên long trọng, đình ở nội thành Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng bị thu hẹp vì tiến trình đô thị hóa, người ta cũng khó lòng mà xác định ranh giới của thôn xã của huyện Tân Long vùng Chợ Lớn và huyện Bình Dương của vùng Sài Gòn cho tường tận.
Cũng như vậy, việc ghi lại thời điểm xây dựng đình cũng đều bế tắc; không rõ từ năm nào ?
Cũng nên nhớ rằng liễn đối có loại có giá trị vĩnh viễn, có loại chỉ sử dụng nhất thời (liễn tết, liễn mừng tân gia, đám cưới v.v…) và cũng tùy trường hợp mà văn chương nghiêm túc, hoặc lả lơi châm biếm, trêu đùa.
Ta không quên những câu đối hay của Mạc Đỉnh Chi, Phùng Khắc Khoan, của Đòan Thị Điểm, Nguyễn Quỳnh, của Ba Giai, Tú Xuất, của Nguyễn Khuyến, Tú Xương v.v…
Nơi chùa Phật.
Chùa Phật mọc lên khá nhiều từ thành thị đến nông thôn, chùa cổ có chùa mới xây cũng có. Chùa là nơi để các tăng sĩ và ni cô tu hành, đồng thời cũng là nơi đến chiêm bái, cầu nguyện của Phật tử và tín đồ. Không thấy việc quảng bá học thuyết Phật giáo. Chữ nghĩa biến đổi ở chùa rất nhiều, tác giả là những bậc cao tăng, hòa thượng các đời đã viết nên mang đậm triết lý Phật giáo đại khái như : Phật nhựt tăng huy, pháp luân thường chuyển, ngủ diệp lưu phương, hồi đầu thị ngạn, hoặc đi liền với các cụm từ bồ đề, bát nhả, nhân quả, sắc khuông, trần gian, địa ngục, răn dạy người đời, tu hành chánh quả, lên cỏi niết bàn v.v…
Tìm hiểu về chữ nghĩa trong chùa ta sẽ biết được thêm các bài kệ dùng để đặt pháp danh cho tăng ni ở các phái, giống như kiểu đế hệ và phiên hệ thư nơi tôn thất nhà Nguyễn.
Các chùa Hoa :
Các chùa Hoa phần nhiều tập trung ở khu vực chợ Lớn, một trung tâm thương mại của Hoa kiều từ lâu.
Thật ra nói chùa cũng không đúng, có lẽ là miếu thì hợp lý hơn, bởi họ viết là Nhị Phủ miếu, Quan Đế miếu hay Thiên Hậu miếu nhưng cũng chưa ổn, thực tế đây là trụ sở, hội quán của các bang hội người Hoa như Phước Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam. Từ xưa họ dùng thuyền vượt biển từ chánh quốc mang theo hàng hoá sang giao thương, buôn bán ở Nam Kỳ khá thành công. Họ đã ở lại, lấy vợ sanh con và thành lập những bang hội theo luật pháp sở tại. Họ xây dựng hội quán khá hòanh tráng, nguy nga, đồng thời là nơi thờ tự Quan Thánh đế quân, Thiên Hậu nương nương hoặc ông Bổn đầu công; cùng lúc ấy từng bang hội họ xây nhà phố cho thuê, xây bệnh viện, trường học và lập các nghĩa trang cho bang hội mình.
Quan công tức Quan Vũ nhân vật nổi bậc thời Tam Quốc Chí, được người Hoa xem như một vị thánh tiêu biểu cho trung cang nghĩa khí, quang minh chính trực, văn hay võ giỏi là bậc anh hùng tế khổn phò nguy đang được tôn thờ.
Bà Thiên Hậu là người con gái họ Lâm ở Phúc Kiến, hoá thân khi còn rất trẻ thường hiện thân bay lượn trên biển để cứu giúp thuyền bè bị bảo tố, người đi biển thường khấn vái đều được hiển linh. Bà được sắc phong là Thiên Hậu nguyên quân.
Liễn đối thờ hai vị này là những áng văn tuyệt tác, mang đậm bản chất văn chương Trung Quốc rất đáng trân trọng.
Riêng về hội quán Minh Hương Gia Thạnh – người ta lại gọi là đình – lại mang nhiều màu sắc Việt Nam. Hội quán do những người Minh Hương xây dựng, danh nghĩa là thờ Trần thượng Xuyên nhưng trong ý nghĩa sâu xa là nơi vọng tưởng cơ đồ nhà Minh đã suy vong. Trong đền thờ đặc biệt có đôi liễn của Cấn Trai Tịnh Hòai Đức tặng.
Về mộ bia và bài vị :
Mộ bia là một phiến đá xanh lớn, nhà khá giả thì đá hoa cương đen hoặc trắng, cắm ở dưới chân mộ, còn bài vị là một thanh gỗ nhỏ có chân đế, chăm khắc sơn phết cẩn thận, để trên bàn thờ ở nhà.
Nội dung của mộ bia và bài vị tương đối giống nhau với những chi tiết : địa phương cư ngụ, chức vụ lúc sinh thời, tên thường gọi, tên tự, tên hiệu, tên thụy, năm sanh, ngày mất, đối tượng lập bia mộ. Nhờ đó ta biết được năm sanh năm mất của ông bà ấy, chức vụ xưa nay ít ai biết, tên làng xã mà nay đã nhiều lần thay đổi – tuy việc ghi chép đơn giản nhưng khá đủ, không thừa không thiếu.
Ngay nay, ở trong gia đình , ít thấy nơi nào còn thờ bài vị (trừ nhà thờ trương gia từ và nơi hậu hiên các chùa Phật) vì người ta quan niệm “ngủ đại mai thần chủ”. Người quá cố thờ qua 5 đời thì không cúng giỗ nữa nên đem đốt hoặc chôn thần chủ đi.
Ta cũng biết bài vị còn gọi là thân chủ. Khi thiết lập một thần chủ, thì người ta viết chữ CHỦ (trong chữ thần chũ) chưa có chấm đầu, phải rước thầy cúng đến ‘để thần chủ” dùng bút son điểm chấm đầu thì thần chủ mới có hiệu nghiệm.
Bài vị bây giờ vẫn có ở các đám tang, làm bằng giấy bồi, người ta để đến ngày đoạn tang rồi đốt đi – chỉ còn thờ bằng hình ảnh.
Ngoài các mộ bia thường thường bậc trung như trên, còn có một loại hình nữa xuất hiện nơi các ngôi mộ hoành tráng – người ta gọi là lăng – như mộ của các đại gia nổi tiếng của các vị đại thần ngày xưa, một loại hình văn hoá khác nữa đó là các bài văn bia, hay cũng gọi là bài minh, văn chương sắc sảo để lược tả về hành trạng của người nằm dưới mộ, ta có thể tham khảo nơi lăng mộ của Nguyễn Hùynh Đức ở Tân An, lăng mộ Lê Văn Duyệt ở Bà Chiểu, của Võ Di Nguy, Trương Tấn Bửu, Phan tấn Hùynh ở Phú Nhuận.
Xin ghi bài văn bia nơi mộ Bá hộ Xường, một trong tứ đại gia nổi tiếng từ giữa thế kỷ 19, khu mộ táng của gia tộc họ Lý ở làng Lộc Hòa nay là Phường Phú Thọ Hòa có một diện tích khá rộng, xưa là nơi hoang vu, nay thì nhà cửa chen chúc đông nghẹt.
Bài văn bia lược dịch như sau :
Ông Nguyên gốc người tỉnh Quảng Đông, huyện Phiên Ngung thuộc đời thứ 26 phái Cửu Viễn đường họ Lý, tên là Lý Tường Quan, hiệu là Phước Trai, sanh tại thôn Nhơn Hòa (Gia Định) vào năm 1842, lúc mới sanh có “hồng hoa bao để” (đẻ bọc điều) nên đặt tên là Tường Quang.
Thuở nhỏ, làu thông sách vở, trọn đạo hiếu để. Khi lớn lên giữa lòng trong sạch, ra sức làm việc, trên thuận dưới hòa, chăm lo đọc sách, lại phàm việc bắn cung cởi ngựa, viết chữ bói toán, cầm kỳ thi họa đều lảo thông. Thoạt đầu là Bang trưởng bang Triều Châu, khi Pháp đến cử ông làm bang trưởng 7 bang Hoa kiều, kiêm thông dịch cho người Pháp – việc thành lập 25 Hộ trưởng trong đô thành đều do công sức của ông. Sau đó ông về trí sĩ, lo việc buôn bán. Người Phap nhiều lần mời mọc ông tham gia chính quyền nhưng ông đều từ chối. Tiếp đó, ông nghỉ việc buôn bán, bỏ ra 20 năm đầu tư vào việc xây chợ, bắc cầu, xuôi ngược khắp nơi, vang tiếng một thời.
Đến năm 1896 ngày 21 tháng 10, đang truyện trò cười nói như thường, bỗng nhiên kháng bệnh, rồi mất …”
Trong tất cả các mộ của vợ, con, dâu, cháu ông bá hộ Xường đều có bài văn bia. Ổ mỗi bài đều kể chi tiết về lý lịch của từng người, rất thuận tiện cho việc tra cứu về lịch sử của một gia tộc, trong đó ta đặc biệt chú ý thấy có :
- Một bài của của cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh viết về bà vợ ông Lý Thanh Vân. Năm 1911 đại ý : tác giả bài viết không quen biết bà này, nhưng có giao tình với người rể của bà là Nguyễn Quý Anh nên viết giúp.
- Một bài (chữ Việt) của Hồ tá Bang viết về ông Nguyễn Quý Anh chồng bà Lý Thu Liên (sau này ông Hồ Tá Bang kết nghĩa sui gia với bà Liên).
Tư liệu về gia đình ông Lý Tường Quan hiện không tìm thấy, có lẽ sau năm 1975 số tư liệu này đã theo gia đình ra định cư ở nước ngoài.
Trong dịp dạo những cửa hàng sách cũ, may mắn tôi vớ được mấy tập sách mỏng có liên quan đến ông Lý Tường Quang, đây là những bài in của nhà Hòa Nguyên Thạch và Văn Nguyên đường ở Quảng Đông in và phát hành có ghi rõ tác giả là Phiên Thành Phước Trai tiên sinh. Gồm có 3 tựa sách :
* Ấu học thi diễn nghĩa.
* Thiên tự văn diễn nghĩa.
* Tam tự kinh diễn nghĩa.
Trong các trang sách chia làm 2 phần, phần trên là nguyên văn, phần dưới là diễn nôm :
- Về Ấu học thi nguyên văn như sau :
Thiên tử trọng hiền hào
Văn chương giáo nhĩ tào
Vạn bang giai hạ phẩm
Duy hữu đọc thơ cao
Ấu tiểu tu cần học
Văn chương khả lập thân
Phần dưới được chuyển âm bằng văn Nôm theo thể lúc bát
Thánh quân trọng kẻ hiền hào,
Yêu người văn học chí cao anh hùng.
Văn chương chỉ vẻ khôn cùng,
Đặt ra để dạy, phòng dùng chúng ngươi.
Giống chi buôn một tới mười,
Cũng là dưới bực con người cả muôn.
Muốn cho vững đức cao phong,
Có nghề đọc sách hơn muôn việc đời.
Trẻ thơ kia hởi nghe lời,
Gắng lòng học lấy chớ chơi thay là.
Văn chương nên cửa nên nhà,
Nên thân sửa sắc hóa ra lạ dường …
Nguyên văn có 6 câu ngụ ngôn, ông chuyển thành 12 câu lục bát, tương tự như vậy cho tới cuối bài.
- Về tập thiên tự văn như sau :
Thiên địa huyền hoàng –                               Vũ trụ hồng hoang
Nhựt nguyệt doanh trắc –                              Thời túc liệt trương
Hòan lai thử vảng –                                      Thu đâu đông tàng
Chuyển môn :
Đen đen mưa móc là trời
Vàng vàng là đất khắp nơi trải bày
Cỏi trần non nước rộng thay
Biển dâu mấy lúc, duổi tay khôn cùng.
Khen ai vận chuyển thiên cung
Cho nên nhựt nguyệt bửa bung, bửa tròn
Bốn bên hăm tám sao con.
Tháp văng như lưới đứng quanh chân trời
Xoay quanh nào lại nghỉ ngơi
Hết chừng nóng nực đến thời lạnh teo …
- Về sách Tam Tự Kinh
Nhơn chi sơ – Tánh bổn thiện
Tánh tương cận – Tập tương viễn
Cẩu bất giáo – Tánh nải thiêng
Chuyển môn :
Người sanh lúc hởi còn thơ
Lòng lành chỉnh thiệt, chẳng chờ chớ dư
Đến chừng biết nói biết đi.
Vui đâu tời đó, tính gì dở hay
Lòng vừa giống giống gần tày
Chơi điều chỉ vẻ lại bày khác xa
Lạ chi thế thái người ta
Gần đèn thì rạng, mực hòa thời đen
Ví dầu chẳng dạy cho quen
Ắt là biến cải tựa đèn gió đưa …
Không biết ông còn có tác phẩm văn học nào nữa không ? Nhưng bấy nhiêu cũng thấy được ông đã góp phần đáng kể vào mặt văn chương, giáo dục và mục đích của công trình này để phục vụ cho ai ? cho trẻ con người Minh Hưong hay trẻ con Việt Nam ? nhưng dù gì cũng là trường hợp hiếm thấy trên văn đàn ở Sài Gòn – Chợ Lớn thời ấy.
Cũng trường hợp tương tự như vậy, tôi đã đọc tại thư viện Tổng Hợp này một ấn bản Hán Nôm với tiêu đề :”Châu Tử trị gia cách ngôn” do nhà Bữu Hoa Các ở Quảng Đông ấn hành, người hiệu đính được ghi là Gia Định Gia Lạc Thị.
Nguyên văn của bài này là thể văn xuôi, mà những người học Nho đều biết, như sau :
- Lê Minh tức khởi, sái tảo đình trừ, yếu nội ngoại chỉnh khiết
- Ký hôn tiện tức, quan tỏa môn hộ tức thân tự kiểm điểm
Thơ Nôm đã dịch là :
Thầy Châu lời ngọc dạy đời
Làm người thuộc nhớ, đừng rời ắt nên
Hừng đông thức dậy rửa nền
Trong ngòai quét hốt, ván phên phải dời
Tối thời gần gủi xét soi
Then cài cửa đóng mình coi cho tường …v.v…
Và còn biết bao nhiêu tư liệu, còn nằm im khắp nơi mà chưa được biết đến cũng như chưa có kế hoạch khai thác, ta chú ý vào hai địa chỉ :
1.) Ở Trung tâm lưu trữ của nhà nước, ở các thư viện chuyên ngành, các cơ sở bảo tàng, đây là một kho tàng khổng lồ tích chứa biết bao nhiêu là tài liệu từ hàn lâm bác học, cho đến văn hoá dân gian, thơ ca hò vè, tuồng tích, phong thủy, y học bói toán, sử ký tự điển, hoặc châu bản, sắc phong, đinh bạ, địa bạ, điền bạ, một khoa bách khoa tòan thư vô giá.
Trên góc độ của người dựng gia phả, tôi tâm đắc nhất là sổ địa bạ lập thời Minh Mạng 1836 cho 6 tỉnh Nam Kỳ. Giở ra từng trang địa bạ, ta sẽ bắt gặp tên họ những người trong gia tộc mình, xác định chắc chắn được hành trạng của từng con người. Thật bồi hồi xúc động và trân trọng khi thấy tên, chữ ký và con dấu ông tổ khai canh tộc họ mình trong bản kê khai ruộng đất, biết được danh xưng của địa phương đó, biết được số mẫu sào thước tấc xưa, biết được chức trưởng thôn dịch mục, biết được thế nào là phân canh, phụ canh, hạng ruộng sơn điền thảo điền.
2.) Ở khu vực tư nhân :
Đã gọi là tư nhân thì ít ai biết và cũng khó tiếp cận, còn nếu may mắn gặp được thì phổ biến chỉ là tứ thư ngũ kinh, sách thuốc đông y, coi ngày, bói toán, thọ mai gia lễ, nếu có bản viết tay cũng chỉ là sự lượm lặt liễn đối, thơ ca hò vè chép lại, chưa gặp một sáng tác đặc sắc nào.
Trong thời gian xuôi ngược đó đây tôi đã gặp được 1 tập thơ ở Hóc Môn có tên là Gia Huấn diễn ca của tác giả khuyết danh ở An Giang. Tôi đã phiên âm Việt ngữ và được nhà xuất bản Phương Đông ấn hành và 1 lần nửa sưu tầm được ở Đức Hòa bài vè Phan Công Hớn giết Đốc Phủ Ca của tác giả Lê Dỏan Hài.
Ngòai các nhà Nnho nổi tiếng như Nguyễn An Khương, Đặng Thúc Liêng, thời gian đó còn có một số người từ miền Trung chắc cũng là nhà khoa bảng, họ phiêu lưu vào khắp Lục tỉnh Nam Kỳ, tá túc ở một gia đình có hằng trăm nào đó để dạy học, xem mạch bốc thuốc làm sinh kế. Họ có nhiều sáng tác thơ ca, hò vè liễn đối văn tế giúp cho nhân dân địa phương, nhưng lúc cuới đời trở về cố hương thì những tư liệu này cũng thất truyền.
Thưa quý vị,
Lần lần rồi đến lúc ít người còn mặn mà với Hán Nôm, thời vàng son đã qua, trong quá trình 20 năm lăn lội với ngành gia phả, tôi có chút ít lượm lặt như trên, mong rằng không làm mất thời gian của quý vị.
----------------
* Nếu có dịp, lần sau sẽ nói về  một họ tộc ở huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi)  Hiện còn lưu giử hơn 200 văn bản từ thời Cảnh Hưng cho đến Bảo Đại văn bản đều liên quan mật thiết đến gia tộc mình qua các đời.
Võ Văn Sổ
 
Các tin mới

» TIÊU CHÍ BÌNH CHỌN DANH HIỆU HỘI ĐỒNG DÒNG HỌ VIỆT NAM   03-10-2017
» KẾT QUẢ BA NĂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ THỰC HÀNH GIA PHẢ CỦA VIỆN LỊCH SỬ DÒNG HỌ VÕ NGỌC AN   02-10-2017
» TP.HCM TƯNG BỪNG LỄ HỘI LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ 2017   07-04-2017
» KHAI MẠC LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ TP.HCM 2017   06-04-2017
» LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ LẦN 1 - 2017 TẠI TP.HCM   04-04-2017
» LẦN ĐẦU TIÊN TỔ CHỨC LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ TP.HCM   29-03-2017
» TRƯNG BÀY HƠN 100 BỘ GIA PHẢ TRONG LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ   29-03-2017
» TP.HCM LẦN ĐẦU TIÊN TỔ CHỨC LIÊN HOAN CÁC DÒNG HỌ   29-03-2017
» CHÚC MỪNG SINH NHẬT GS MẠC ĐƯỜNG   26-09-2015
» VIỆN LỊCH SỬ DÒNG HỌ: HAI NĂM ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN   26-09-2015
» HỘI NGHỊ GIA PHẢ HỌC VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ CỦA DÒNG HỌ   02-09-2015
» HỘI NGHỊ THÔNG BÁO GIA PHẢ HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT - 2015   30-08-2015
» CỦNG CỐ ĐẠO ĐỨC DÒNG HỌ - GÓP PHẦN GIẢM TỘI ÁC   15-08-2015
» Tọa đàm khoa học - Danh tướng Nguyễn Tri Phương qua góc nhìn gia phả học   10-04-2015
» ƯU VIỆT CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM   10-01-2015
» ĐỀ CAO TÍNH NGƯỠNG THỜ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG VÀ THỜ CÚNG TỔ TIÊN   08-05-2013
» TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG CỦA TTNC & TH GIA PHẢ VÀ CHI HỘI GIA PHẢ TPHCM NĂM 2012   08-05-2013
» Hội thảo khoa học trong ngày tổng kết   08-05-2013
» Lịch của Vietkings   19-02-2013
» Gia phả họ Trần - Tác phẩm hiếu tình dâng tặng GS Trần Văn Giàu   26-12-2012
» Trong nền văn hóa dân tộc   19-10-2012
» Gia phả học cho mọi gia đình   18-10-2012
» Vài suy nghĩ về mối quan hệ gia tộc và thành viên gia tộc Việt Nam   18-10-2012
» 20 năm hình thàng và phát triển của Trung tâm Nghiên cứu và Thức hành Gia phả TP.HCM (1992-2012)   18-10-2012
» Tổng kết 20 năm: Hoạt động bền bĩ, liên tục, kết quả đạt được to lớn vượt bậc của Chi hộ và TT Nghiên cứ và Thực hành Gia phả TP.HCM   18-10-2012
» Sở VH,TT&DL Long An tặng bằng khen cho Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM   17-10-2012
» 20 năm dựng 130 bộ gia phả   15-10-2012
» Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM đã xây dựng được 130 bộ gia phả   15-10-2012
» Lập gia phả cho nhiều nhà lãnh đạo và cách mạng   15-10-2012
» Trao gia phả Trần Văn Giàu nhân ngày truyền thống ngành Văn hóa thông tin   15-10-2012
» Tiêu chí xây dựng dòng họ văn hóa   04-07-2012
» Các dòng họ Việt Nam là dòng họ ưu việt...   21-05-2012
» Nhà mồ giữa thành phố   28-04-2012
» Buổi ra mắt Câu lạc bộ “Tuổi trẻ với dòng họ - gia phả”   06-04-2012
» Về vấn đề xây dựng văn hóa dòng họ   07-03-2012
» Nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải phát biểu tại lễ trao tặng gia phả   05-03-2012
» 11 họ tộc ở TP HCM được tặng gia phả   05-03-2012
» Đọc lịch sử từ gia phả   05-03-2012
» Trao tặng gia phả cho 11 chi họ xã anh hùng   05-03-2012
» Tặng gia phả cho11 dòng họ   19-02-2012
» Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải: Trao gia phả cho các dòng họ của xã anh hùng   19-02-2012
» Tổng kết lớp tập huấn về phương pháp dựng phả   02-02-2012
» Góp phần xây dựng dòng họ văn hóa tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP.HCM   22-12-2011
» Cổ vũ mạnh mẽ những ý tưởng sáng tạo   18-12-2011
» Những "bí mật" về hệ gene của con người   06-07-2011
» Dòng họ "tay vượn"   25-06-2011
» Ngày hội sản phẩm dịch vụ văn hóa 2011 - Nhiều người quan tâm gia phả   16-06-2011
» Vài suy nghĩ về vai trò của văn hóa gia đình, văn hóa dòng họ trong công cuộc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam   15-06-2011
» Ngày Bác đến Trường Dục Thanh   30-05-2011
» MỘT THIẾT CHẾ VĂN HÓA DÒNG HỌ ĐÃ ĐỊNH HÌNH   27-04-2011
» Hướng dẫn hoạt động hội đồng gia tộc ở các xã ấp   09-04-2011
» Mỗi chi họ trong cùng một họ hãy truy tìm, liên kết, nhận họ nhau   22-02-2011
» Thượng tướng Phan Trung Kiên nói về vai trò dòng họ trong cách mạng Việt Nam   22-02-2011
» Xây dựng văn hoá nghề nghiệp   11-02-2011
» Trung tâm Nghiên cứu & Thực hành Gia phả TP.HCM tổng kết năm 2010   17-12-2010
» Dựng gia phả cho nhân vật lịch sử và cộng đồng   11-12-2010
» Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập   10-12-2010
» Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi   10-12-2010
» Vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam   06-08-2010
» Tinh thần hiếu học - Một giá trị tiêu biểu của văn hoá Bắc Miền Trung   31-07-2010
» SẮC CHỈ VỊ THÀNH HOÀNG ĐÁNH RƠI   31-07-2010
» MỘT SỐ PHONG TỤC CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI ĐẠI CHỐNG BẮC THUỘC   23-07-2010
» VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ DÒNG HỌ TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ HIỆN NAY   23-07-2010
» Chuyện họ của Hai Bà Trưng   10-07-2010
» Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam   10-07-2010
» Bữa cơm gia đình   03-07-2010
» Bửa cơm gia đình trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam   03-07-2010
» TƯ LIỆU ĐỊA BẠ TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG (KHẢO SÁT ĐỊA BẠ LÀNG VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)   01-07-2010
» LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KINH (VIỆT) Ở TRUNG QUỐC   01-07-2010
» Suy nghĩ khái niệm gốc Việt   18-06-2010
» Mối quan hệ cá nhân - gia đình trong bối cảnh Việt Nam đi vào toàn cầu hóa   12-06-2010
» Vai trò của gia đình và văn hóa gia đình   12-06-2010
» Chính thức khởi công xây dựng Nhà Tưởng niệm danh nhân Cao Bá Quát   09-06-2010
» Hội nhập với thế giới và bản sắc văn hóa gia đình Việt Nam   09-06-2010
» Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28.6.2001-28.6.2007): Gia đình Việt Nam thời kỳ hội nhập   09-06-2010
» Văn hóa dòng họ đang lên ngôi   18-05-2010
» HỌ HUỲNH Ở BÌNH TRỊ ĐÔNG A - NHỮNG NGƯỜI CHA VÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG   25-04-2010
» Người đại diện Trung tâm gia phả ở các tỉnh, thành phố   03-03-2010
» Tổng kết hoạt động Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM năm 2009 và phương hướng hoạt động năm 2010   03-03-2010
» GIA PHẢ TỘC LÊ THÔN PHÚ XUÂN, XÃ ĐÔNG Á, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH VÀ Ý KIẾN CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & THỰC HÀNH GIA PHẢ TP.HCM   29-12-2009
» THỬ NHÌN LẠI CÁCH GHI ĐỊA DANH BẰNG CHỮ HÁN   19-12-2009
» Dòng họ muốn phát triển vững chắc phải thực hiện sự đoàn kết thống nhất và tôn trọng luật pháp Nhà nước   07-12-2009
» Gian nan trong khâu điền dã   07-12-2009
» Vài kinh nghiệm khi làm phả hệ   07-12-2009
 
các tin cũ
 
» Dựng gia phả cho toàn họ tộc được không?   06-12-2009
» Tạo cơ chế kích thích nhu cầu hiểu chữ hán - Nôm trong nhân dân qua hoạt động gia phả   06-12-2009
» Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên   25-10-2009
» Trao giả phả cho họ Bùi (Vĩnh Long)   18-10-2009
» Từ đâu để có nội dung cho gia phả?   09-10-2009
» Hôn nhân là qui luật phát triển của dòng họ   09-10-2009
» Đồng mả nông thôn Nam bộ   09-10-2009
» Đồng mả nông thôn Nam bộ   30-09-2009
» Tương lai rạng rỡ của sự nghiệp dựng phả các dòng họ Việt Nam   27-09-2009
» Quá trình của việc lập gia phả trong xã hội Việt Nam   21-09-2009
» Về người viết gia phả lớn nhất nước Việt   21-09-2009
» Đưa gia phả lên mạng   21-09-2009
» Gia phả nét văn hóa các dòng họ Việt Nam   17-09-2009
» Hôn nhân là qui luật phát triển dòng họ   17-09-2009
» Cần có trung tâm phả học Việt Nam   17-09-2009
» Các vấn đề rút ra qua 17 năm dựng phả cho các chi họ   30-08-2009
» Trung tâm nghiên cứu thực hành gia phả TP.HCM giúp nhận được họ qua gia phả cổ   30-08-2009
» Sự nghiệp dựng phả các dòng họ là thiêng liêng và khoa học   23-08-2009
» Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam   23-08-2009
» Dự báo hôn nhân và gia đình trong tương lai   23-08-2009
» Gia phả với ngày gia đình Việt Nam   23-08-2009
» Theo chân những người "vạch bóng thời gian tìm nguồn cội"   21-07-2009
» Gia phả - hồi ký: chứng tích của sự có mặt   21-07-2009
» Dựng gia phả để nghiên cứu lịch sử   21-07-2009
» Những ông đồ Sài Gòn đi... làm gia phả   21-07-2009
» Dựng phả, một dịch vụ hấp dẫn   21-07-2009
» Nhân ngày Gia đình Việt Nam 28.6: Bàn về đạo gia đình, đạo họ hàng   21-07-2009
 
     
 
     


 

     
 
ĐẶT LÀM GIA PHẢ

 
Chúng tôi cung cấp dịch vụ làm gia phả cho dòng họ. Vui lòng liên hệ: giaphatphcm@gmail.com
 
 
     

     
 
THÔNG BÁO

 
Website gia phả thành phố hồ chí minh
Chi tiết »
 
     

     
 
QUẢNG CÁO
 
Trung tâm Gia phả
 
     

 

Trang Chủ | Giới Thiệu | Tin Tức | Kiến Thức | Tư Liệu | Tư Vấn | Diễn Đàn | Liên Hệ
Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả TP.Hồ Chí Minh