Trang chủ > Nhân lễ kỷ niệm căn cứ địa chống Pháp ở Bình Dương, tôn vinh anh hùng liệt sĩ

Nhân lễ kỷ niệm căn cứ địa chống Pháp ở Bình Dương, tôn vinh anh hùng liệt sĩ

15/01/2026 09:56:33

Tham luận của bà Hồ Việt Kim Chi viết cho Tọa đàm về cụ Võ Văn Nhâm & gia phả chi họ Võ ở Bà Giã. Tọa đàm lúc 8h30 ngày 30/3/2025 tại tư gia hậu duệ ông Võ Văn Nhâm (số 303/16A Nguyễn Thị Lắng, xã Phước Vĩnh An,  huyện Củ Chi, TP.HCM).

I. TRUY TÌM DÒNG HỌ

Năm 2007, ông Võ Văn Sổ kể chuyện gia tộc họ Võ ở Bà Giã, ấp 1, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi TP.HCM. Ông Sổ là cháu đời VI. Năm 2004, ông Võ Văn Sổ đã kỳ công tìm trong tàng thư về mối quan hệ dòng họ của phái: 

- Ông Võ Văn Một, lúc đó là Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai vốn là vai em của phái họ Võ Văn ở Bà Giã.    

- Ông Võ Văn Sót là chú ruột của ông Nhâm. Hiện nay còn cháu ông sinh sống ở xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (cũ). 

- Ông Huỳnh Văn Một (cháu ngoại), Lê Minh Xuân anh hùng lực lượng võ trang tức Lê (Võ) Văn Sia. Tất cả những người cháu chắt nêu trên đều cùng xem ông Võ Văn Nhâm là người đi đầu trong công cuộc chống Pháp và là tấm gương quý cho con cháu noi theo. 

II. THÂN THẾ ÔNG VÕ VĂN NHÂM

Ông tổ đời II là ông Võ Văn Nhâm sinh khoảng năm 1816, là một trong những thủ lĩnh hy sinh năm 1868 do giặc Pháp bắt và giết chết ở Thủ Dầu Một. Thân phụ là ông Võ Văn Hay (đời I). Theo địa bạ Minh Mạng, do Trương Đăng Quế lập năm 1836 ghi ông Hay là Thôn trưởng thôn Phước An, xứ Thị Giã (ấp Bà Giã ngày nay). Ông được dân làng quí trọng, do tính chất anh hùng, bất khuất. Gia đình ông trước ở Thuận An - Huế, ông không chịu trói buộc nên đã đi tìm đất sống ở phương Nam. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Điền, sanh được 9 người con, 5 trai, 4 gái, mà ông Nhâm là thứ hai (con trưởng). Người con thứ ba là ông Võ Văn Ngoan sinh năm 1818 (nhờ đó, suy ra năm sinh của ông Nhâm như trên). 

* Các con của ông bà Võ Văn Hay: 

+ Thứ hai: Ông Võ Văn Nhâm, (không biết tên bà) không biết năm sanh, căn cứ vào năm sanh người em kế Võ Văn Ngoan là Mậu Dần 1818, thì ông phải trước đó vài năm, đang khoảng cuối đời Gia Long, ông hy sinh trong thời chống Pháp tức là sau khoảng 1867 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông (ước 1815 - 1867) trên 50 tuổi. Ông Nhâm khi trưởng thành, có thể gia nhập hàng ngũ quân đội triều đình, (cũng có thể trong chế độ đinh điền theo kiểu Trương Định) đóng quân ở vùng Thanh Tuyền, Dầu Tiếng, Long Nguyên. Ông đem cả gia đình vợ con theo, nhưng gặp lúc người Pháp đến chiếm Bến Nghé, Sài Gòn, năm 1859 rồi 2 năm sau lấy trọn 3 tỉnh miền Đông. Đâu đó, ông bị nội gián phải hy sinh, các con tan tác đổi thành họ Nguyễn và sống vất vả nơi quê người không một lần trở lại cố hương.

Ông Võ Văn Nhâm đứng lên chống Pháp xâm lược đã xây dựng căn cứ “Vòng Thành” ở Bưng Rê, lập xưởng vũ khí ờ Tha La Núi Cậu, rồi sau đó thất bại bị Pháp bắt đưa về Thủ Dầu Một giết chết. 

+ Thứ ba : Võ Văn Ngoan. 

+Thứ tư : Võ Văn Ngày. 

+Thứ năm : Võ Thị Thảo.

+ Thứ sáu : Võ Thị Trung.

+ Thứ bảy : Võ Văn Cơ. 

+ Thứ tám : Võ Thị Giàu.

+ Thứ chín : Võ Thị Đây.

+ Thứ mười : Võ Văn Đó.

* Các con của ông bà Võ Văn Nhâm: Không rõ tên vợ, ông Nhâm có 8 người con: 

Thứ hai : Võ Thị Liễu và chồng Đặng Văn Lắm (về sống ở Tân Thạnh Tây).  

Thứ ba : Võ Văn Bang (ở Hố Bò Phú Mỹ Hưng). 

Thứ tư : Võ Văn Kề.

Thứ năm : Võ Thị Nho.

Thứ sáu : Võ Văn Tàu. 

Thứ bảy : Võ Văn Lái.

Thứ tám : Võ Văn Hải.

Thứ chín : Võ Văn Thành.

Người con gái đầu được gả về Tân Thạnh Tây là do ông nội Võ Văn Hay nuôi từ nhỏ, trong khi các người con khác đều không có ai ở quê nhà mà đều ở vùng Bưng Rê, Long Nguyên, Dầu Tiếng, Kiến Điền, Kiến An và cũng không có phần đất thừa kế nào ở Bà Giã, một điều nữa là các con đều đổi thành họ Nguyễn sau 1975 chỉ có ông 8 Cội là đổi thành họ Võ. 

III. TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC

Trước hiểm họa giặc Pháp, dù triều đình Huế và Phan Thanh Giản đã nghị hòa, nhóm người như tri huyện Đặng Văn Duy (nhà ở xóm Bàu Sim), ông Võ Văn Nhâm cùng với các dân lân, dân ấp đã ứng nghĩa, thế yếu thì rút lên rừng. Riêng ông Đặng Văn Doi (phủ Doi), ông Nguyễn Văn Trác (điểm chỉ), người thôn Tân Phú Trung đã lui binh về xứ Bông Trang, Nhà Đỏ để giấu lực lượng, nhưng về sau bị giặc Pháp giết chết. 

Vào ngày 24/6/1866, sau trận đánh chớp nhoáng vào Trảng Bàng của Trương Quyền, các nhóm nghĩa quân được thể phối hợp hoạt động mạnh ở Gia Định - Chợ Lớn. Trong lúc đó, Trương Quyền đóng quân ở cầu An Hạ, Bưng Trùm Lạc, Bàu Sim, Bà Giã, phối hợp với cánh quân Đặng Văn Duy, Võ Văn Nhâm. Pháp định mở cuộc tấn công lớn. Trương Quyền nhắm đánh không lại, buộc phải chia quân ra làm ba cánh:  

- Cánh xuống Bình Điền. 

- Cánh vượt sông Bến Nghé qua đất Thủ Dầu Một trong đó có quân ông Nhâm. 

- Cánh do Trương Quyền trực tiếp chỉ huy, kéo ngược lên Trảng Bàng an toàn.

IV. VÒNG THÀNH ÔNG HAI BỤNG

Tại Bưng Rê, Bến Cát, trên bờ tả sông Thị Tính, trước mặt là suối Hố Đá, bên kia sông là bưng Hà Nù, thuộc xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng ngày nay.

Dựa vào thế rừng già phủ kín, hiểm trở, nơi đây, ông Võ Văn Nhâm cho đắp một thành đất, 300 x 260 mét, chân rộng 5 mét để làm nơi trú quân, khoảng 25 - 30 quân nghĩa dõng mà người dân lâu nay vẫn gọi là “Vòng Thành của ông Hai Bụng” (do bụng ông to) hay “Vòng Thành ông Nhâm đánh Tây”. Đây chính là cơ sở của một trong những căn cứ địa sớm nhất Nam bộ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần đầu. 

Với chu vi Thành Đất không lớn, sự bố trí các cơ sở sinh hoạt bên trong, ăn ở, tập luyện cũng là đơn sơ. Có thể coi đó là căn nhà chung để làm nơi hội họp, bàn luận việc quân, có cả nhà bếp, nhà kho, nhà nghỉ. Khuông viên thành có cạnh quay về hướng tây, sông Thị Tính và suối Hố Đá bao vòng đến hướng bắc. Hướng đông ở phía sau, là bìa rừng rậm, bạt ngàn với các loại cây gỗ quý như dầu, sao, vên vên, gõ... Cửa thành quay ra hướng có sông, suối để có thể dùng ghe vận chuyển người, lương thực. Trong cuộc điền dã nhiều năm trước, đoàn nghiên cứu gia tộc đã thu nhặt được các loại mảnh gốm của các loại lu, ghè, hủ, mái... dùng để đựng thức ăn, nước uống, gày mắm. 

V. TỔ CHỨC, SINH HOẠT NỘI BỘ

Tổ chức sinh hoạt rất chặt chẽ. Ông Nhâm hướng dẫn quân dân tự túc mọi thứ cần thiết: 

- Nuôi trâu đàn vài trăm con và thả rong trên hai bờ sông Thị Tính, chủ yếu là bên hữu ngạn sông. Với đàn trâu này đã cung cấp thịt cho đội quân, cùng với thú rừng săn, bẫy được.

- Cấy lúa trên ruộng, làm sa Hà Nù để hứng cá các loại, thức ăn phải nói là đầy đủ. Ông cũng hiểu việc sản xuất tự túc này phải có phương châm bảo mật cách nào để khỏi lộ cơ sở Vòng Thành là việc cần nêu, cần nghiên cứu tiếp.

- Việc lập lò rèn ở Tha La, Bà Sự, Núi Cậu.

- Việc quan hệ với đồng bào dân tộc S’tiêng, Mơ Nông ở Thủ Dầu Một là việc tất yếu của lực lượng chống Pháp. 

- Việc quan hệ với cánh quân của các ông Đặng Văn Doi, Đăng Văn Duy, Nguyễn Văn Trác, ở tổ quán, kể cả ông Võ Văn Sót, là người chú ruột đã di chuyển về phía Rừng Muỗi - Tân Mỹ, tỉnh Long An ngày nay. Tất cả thể hiện thế vững của một căn cứ địa muốn củng cố, khuyếch trương, mở rộng lực lượng của mình càng ngày càng rộng ra.  Ở Thủ Dầu Một lúc ấy, ngoài căn cứ Thành Đất này còn một căn cứ khác có tên là “Xrây Meang”, mà sử đã ghi (nay chưa rõ ở đâu và do ai lập ra?).

* Nguyên nhân ông Nhâm bị bắt: Có một sự kiện quan trọng: cũng do việc bố trí người giữ đàn trâu mà chính tên này đã phản bội, trốn ra ngoài, móc nối với bọn Tây ở Thủ Dầu Một lên càn quét và bắt sống ông Nhâm! Do chỉ điểm, quân Pháp bao vây thành, cố ý bắt sống ông. Theo thông tin từ dòng họ: ông và vợ con sống chung trong thành. Trước tình thế nguy cấp, ông cho vợ con trốn đi. Ông ở lại cùng quân sĩ chiến đấu đến khi bị bắt và bị giải về thành Săn Đá (từ chữ soldats của Pháp). Chúng tra tấn, rồi mổ ruột ông, thả xác trôi sông Bến Nghé, khúc sông Thủ, Bình Nhâm. Hai người em trai, ông Võ Văn Ngùy (thứ tư) cùng ông Võ Văn Cơ (thứ bảy), với sự hướng dẫn của anh thứ ba là ông Võ Văn Ngoan (thôn trưởng thôn Phước An), đem xác ông Nhâm về kín đáo chôn ở đồng mả xóm Bến (nơi sau này chôn cất hậu duệ các họ Võ, họ Tô). 

Được biết hậu duệ chi trực hệ ông Nhâm, sống tập trung ở xã Long Tân (Dầu Tiếng), Tân Lập (Bến Cát) được 3 đời, đổi ra họ Nguyễn là Nguyễn Văn Cặn, Nguyễn Văn Cội. Hai cháu ngoại đời 3 là Cao Văn Kỉnh, Cao Văn Kiệt (Thơ), khu ủy viên Khu Sài Gòn - Gia Định đã hy sinh, trong kháng chiến chống Mỹ, tại xã Nhuận Đức (huyện Củ Chi). 

Năm 1945, cháu đời 3 là ông Võ Văn Diệu, bị bắt do tham gia khởi nghĩa Nam kỳ. Sau khi từ Côn Đảo trở về, ông đã cùng thanh niên xã làm lễ hội gọi là “Hội thề Bà Giã”, tôn vinh ông Nhâm. Sau đó, ông Diệu thoát ly tham gia kháng chiến. Năm 2004, ông Võ Văn Sổ là cháu đời VI đã kỳ công tìm trong tàng thư về mối quan hệ dòng họ của phái như đã nói ở trên. 

VI. TÔN VINH CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ

Dựa trên lời đề xuất của ông Võ Văn Sổ, UBND tỉnh Bình Dương, ngày 4/7/2005 ra công văn quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh với nội dung như sau: “Nay xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh với các di tích sau đây: 

- Di tích lịch sử cách mạng Đình An Sơn - xã An Sơn - huyện Thuận An. 

- Di tích lịch sử cách mạng Thành Đất họ Võ - xã Long Tân - huyện Dầu Tiếng. 

- Di tích cách mạng Chùa Tổ Long Hưng - xã Tân Định - huyện Bến Cát. 

- Di tích Mộ cổ Đức ông Trần Thượng Xuyên - xã Tân Mỹ - huyện Tân Uyên”.

Tháng 5/2006, huyện Củ Chi tổ chức cuộc nói chuyện “Các nhân vật lịch sử thuộc họ Đặng ở Bàu Sim và họ Võ ở Bà Giã trong giai đoạn đầu chống Pháp”. 

VII.  VÒNG THÀNH ĐẤT HỌ VÕ

Sau nhiều lần đi khảo sát, con cháu tìm hiểu về cách xây dựng vòng thành: Đó được dân gọi là Vòng Thành Đất, được đắp bằng đất thịt pha cát, là một dấu tích trên vùng đất Bưng Rê (xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng), gắn chặt với tên tuổi nhân vật Võ Văn Nhâm người lãnh đạo nghĩa quân núi Cậu, Dầu Tiếng chống lại quân xâm lược Pháp trong thời kỳ 1859 - 1867.  Di tích Vòng Thành Đất tọa lạc trên một vùng đất triền đồi, tiếp giáp với bưng biền ven sông, rừng chồi, cây dại như tràm, mua, mọc lúp xúp, không có các loại cây to. Ngoài ra, theo hướng Tây song song với sông Thị Tính cách khoảng 500m, hướng Bắc cách dòng suối Hố Đá khoảng 1km, hướng Đông và Nam dựa vào rừng cây đã tạo nên một vị trí án ngữ quan trọng chiến lược lúc bấy giờ. Vòng Thành Đất có hình chữ nhật với chiều dài hơn 300m và chiều ngang 206m được đắp bằng đất, chân thành có chiều rộng khoảng 5m do thời gian đã quá lâu nên chiều cao giờ chỉ còn khoảng 60 - 70cm. Hiện nay không xác định được cổng ra vào, bên trong trống trải cây cỏ mọc rải rác. 

Vòng Thành Đất họ Võ đã được xếp hạng là di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 2941/QĐ-UB ngày 4-7-2005 của UBND tỉnh Bình Dương./.

………………..

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 

- Gia phả họ Võ (Võ Văn Sổ).

- Hành trạng cụ Võ Văn Nhâm (Võ Ngọc An)

- Võ Văn Nhâm với vòng thành đất thời kỳ đầu chống Pháp

HỒ VIỆT KIM CHI