Trang chủ > Giá trị lịch sử - văn hóa địa danh Bà Giã với dấu ấn đất nước và con người Gia Định xưa

Giá trị lịch sử - văn hóa địa danh Bà Giã với dấu ấn đất nước và con người Gia Định xưa

15/01/2026 10:39:14

Giá trị lịch sử - văn hóa địa danh Bà Giã với dấu ấn đất nước và con người Gia Định xưa (Qua gia phả họ Võ kết hợp một số tài liệu và thư tịch liên quan) là tham luận của PGS-TS Huỳnh Quốc Thắng viết cho Tọa đàm về cụ Võ Văn Nhâm & gia phả chi họ Võ ở Bà Giã lúc 8h30 ngày 30/3/2025 tại Củ Chi, TP.HCM.

Bà Giã là địa danh cổ gắn với vùng Củ Chi - Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nay và hiện vẫn còn lưu dấu đậm nét những giá trị lịch sử - văn hóa liên quan đất nước, con người của vùng Gia Định xưa. Thông qua một số tài liệu và thư tịch kết hợp gia phả họ Võ với những sự kiện nổi bật không chỉ liên quan một dòng họ cư trú lâu đời tại Bà Giã mà còn có ý nghĩa lớn đối với lịch sử - văn hóa địa phương toàn vùng, bài viết nhằm góp phần làm rõ vai trò của gia phả với tư cách như một bộ “gia sử” không chỉ để nói về lịch sử gia đình dòng họ cụ thể mà còn có thể góp phần làm sáng tỏ hơn những giá trị lịch sử - văn hóa liên quan đất nước và con người tại một vùng đất cụ thể, là cơ sở quan trọng để gợi mở về việc bảo tồn và phát huy tốt nhất các vốn di sản văn hóa dân tộc lưu dấu trên vùng đất ấy. 

1. TỔNG QUAN VỀ GIA PHẢ HỌ VÕ VÀ VỀ ĐỊA DANH BÀ GIà 

1.1. Về gia phả và Gia phả họ Võ

Khái niệm “gia phả” (tiếng Anh: genealogy; tiếng Trung: 家谱) theo nghĩa thông thường đó là “bản ghi chép tên họ, tuổi tác, ngày giỗ, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tổ tiên và mộ phần của một gia đình lớn hay một dòng họ… có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ”. 

Bộ “Gia phả họ Võ xứ Bà Giã - ấp 1, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình tập thể (2)   đầu tiên (trong số gần 200 bộ gia phả đến nay) được thực hiện bởi Trung Tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh. Nội dung công trình ngoài Lời dẫn nhập và Lời nói đầu gồm có các phần như sau: Phả ký (lịch sử dòng họ Võ), Phả hệ (các nhánh/đời/chi họ/gia đình trong dòng họ Võ), Ngoại phả & Phụ khảo (truyền thuyết, lễ hội, quy định giỗ kỵ, trùng tu mộ phần…liên quan dòng họ Võ).  

1.2. Về địa danh Bà Giã trên đất Gia Định xưa, Thành phố Hồ Chí Minh nay

Khái niệm Địa danh (Toponym) và Địa danh học (Toponymy) đến nay có vị trí, ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, là một nét gạch nối giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, khoa học nhân văn, đặc biệt là Địa lý học, Ngôn ngữ học và Văn hóa học… Địa danh có thể được xem là “hệ thống giá trị lịch sử - văn hóa gắn với những khái niệm chỉ tên đất, tên người mang tính chất là những “đài kỷ niệm” hay là “tấm bia” bằng ngôn ngữ về những gì liên quan thời đại mà nó ra đời” (4). Nói cách khác, mỗi địa danh đều ít nhiều mang những giá trị lịch sử - văn hóa, tức những ý nghĩa văn hóa liên quan sự kiện, con người, sự việc từng xảy ra trong quá khứ, mà “xét về bản chất giá trị lịch sử chính là cái cốt lõi của những giá trị văn hóa, là cái “tinh anh” còn lại của bao nhiêu “xương máu”, “mồ hôi nước mắt”… của các thế hệ đi trước, trong đó các “kinh nghiệm lịch sử” trở thành những bài học vô giá cho các lớp người đi sau” (5).

Nội dung liên quan địa danh “Bà Giã” dựa trên hai thuyết: 1.Câu chuyện căn cứ theo Địa bạ minh Mạng (1836) nói về tên người đàn bà cư ngụ tại địa phương là “Thị (Bà) Giã” có công góp gạo nuôi quân chúa Nguyễn; 2.Câu chuyện truyền tụng theo ngạn ngữ dân gian địa phương về hai vợ chồng được gọi là “Ông Giã bà Vê” (6). Trên thực tế, địa danh này gắn với một vùng đất xám phù sa cổ có vị trí đồi gò cao hơn hẳn so các vùng chung quanh, nơi cao nhất là 12m, nơi thấp nhất cũng khoảng 1m mà qua nhiều thời kỳ lịch sử đều thuộc đất Gia Định xưa. Dựa theo “Gia phả họ Võ…(2017) cùng nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), Bà Giã thuộc vùng Phiên Trấn (Gia Định) bên cạnh Trấn Biên (Biên Hòa) và Long Hồ (Vĩnh Long). Đến thời vua Gia Long tức từ đầu thế kỷ 19, Bà Giã thuộc thôn Phước An, tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương, 1 trong 4 huyện của phủ Tân Bình thuộc trấn Phiên An (1 trong 5 trấn của Gia Định Thành lúc ấy). Từ thời Minh Mạng trở đi, Gia Định trở thành một tỉnh của Nam kỳ lục tỉnh (bao gồm toàn vùng Nam Bộ) cho đến khi thực dân Pháp chiếm nước ta (sau năm 1859) lại tiếp tục được chia thành 20 tỉnh mà tỉnh Gia Định là thủ phủ (trung tâm đặt tại khu vực Bà Chiểu - Bình Hòa, sau này là Bình Thạnh) bao gồm 4 quận: Nhà Bè, Thủ Đức, Gò Vấp và Hóc Môn. 

Trong tiến trình phát triển nói trên, Bà Giã thuộc thôn Phước Ninh sau gọi xã Phước Vĩnh Ninh, rồi Phước Vĩnh An thuộc quận Hóc Môn mà sách “Gia Định xưa và nay” của tác giả Huỳnh Minh có đề cập tới như sau: “Hóc Môn cách đây vài trăm năm là một đám rừng lớn, đầy ác thú, gai gốc hố hào, không ai qua lại. Mãi đến sau có người quy dân lập ấp, dựa theo lối trăng trống bìa rừng ở rải rác theo miệt Cây Bài, Củ Chi, Bà Giã, Bàu Sim làm cho mấy miền trên đây ngày thêm bành trướng…Ở đây có một vùng môn nước ước chừng ba, bốn mẫu. Do đó có tên là Hốc Môn. Người Hoa viết là Phước Môn” (7). Liên quan địa bàn ấy, gần với vùng Bà Giã đó là con đường “Thiên Lý Cù” vốn là con đường mà người Pháp đã sửa sang thành quốc lộ 1, hoàn thành năm 1880, sau này là quốc lộ 22 và đã được Đại Nam nhất thống chí nhắc tới: “Từ thành Gia Định có một đường phía Tây từ cửa Đoài Nguyệt đến cầu Tham Cấn qua đò Thị Du (bến Bà Du và cầu Tham Lương)… giáp ngã ba Sư Lộ qua suối Sĩ Khê (Tây Ninh) đến địa phận A-Ba Cao Miên giáp Đại Giang Mekong dài 439 dặm gặp chỗ có rừng thì chặt cây đắp đường bề ngang 3 trượng (14,61) làm ra con đường tiện lợi, chỉ hiềm đường xa vắng vẻ không có nhà cửa dân cư” (8).

Làng Phước Vĩnh Ninh được hình thành trước năm 1945 đã sáp nhập từ 3 làng Phước Ninh (Bà Giã), Vĩnh Cư (Cây Bài) và Vĩnh Phước (Bàu Hóc) và từ sau năm 1946 tiếp tục sáp nhập thêm ấp Cây Sộp (Vĩnh An) của Tân An Hội, thành xã Phước Vĩnh An cho đến sau này. Dưới thời thực dân Pháp cai trị, từ năm 1946, 1947 trở đi, các cơ quan cách mạng cấp tỉnh, cấp quận chuyển về đóng ở khu an toàn vùng An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng. Tại làng quê Phước Vĩnh An, hưởng ứng lời kêu gọi Thi đua ái quốc, diệt giặc dốt, diệt giặc đói chống ngoại xâm, phong trào Bình dân học vụ rất sôi nổi, có kết quả. Chánh quyền tỉnh Gia Định lui về mạn Gò Vấp - An Phú Đông, rồi lên Tân Mỹ, Bình Lý, sau đó có một thời gian về đóng tại Phước Vĩnh An và Tân Phú Trung.  

Đặc biệt, những năm 1947 - 1948, do địa thế dễ bị vây hãm bởi giặc, lực lượng vũ trang tại chỗ vùng Phước Vĩnh An cùng với Tân Phú Trung đã tạo ra những hầm bí mật sau phát triển liên hoàn trở thành quê hương của mô hình địa đạo Củ Chi nổi tiếng (9) .  

Dưới thời Ngô Đình Diệm của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, căn cứ Đồng Dù là căn cứ Liên hợp quân sự lớn, từ năm 1966 đây là nơi đặt sở chỉ huy Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ bên cạnh liên tỉnh lộ 8 được nâng cấp và mở thêm từ Củ Chi đến Đức Hòa - Hậu Nghĩa làm đường vận chuyển quân sự từ Tổng kho Long Bình qua Thủ Dầu Một để đến Củ Chi và đi Tây Ninh. Thời gian này, địa bàn Bà Giã ở Củ Chi thuộc vùng vành đai trắng, chi chít những hố bom đạn... Nhưng nơi này vẫn thường xuyên có đội du kích và cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bám dân, bám đất, có lúc ở đây đã từng là vùng đóng quân của trung đoàn Gia Định Anh hùng. 

Xóm Bà Giã xã Phước Vĩnh An và xóm Cây Da xã Tân Phú Trung thuộc huyện Củ Chi vẫn thường là “vùng tự do” với nhiều cơ quan cách mạng cấp Khu và Trung ương Cục trú đóng… Cũng ở giai đoạn này, nơi đây đã nhiều lần thay đổi địa giới hoặc tên đơn vị hành chánh. Đến khoảng năm 1972, Bà Giã thuộc xã Phước Vĩnh Ninh, quận Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa; đến sau năm 1975, lần nữa đổi trở lại thành xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh và ấp Bà Giã là 1 trong 5 ấp của xã này cho đến nay… 

Bản đồ Bà Giã, Phước Vĩnh An (Củ Chi -TP Hồ Chí Minh). Nguồn: Gia phả họ Võ…(2017)

 2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỊA DANH BÀ GIÃ VỚI DẤU ẤN ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI GIA ĐỊNH 

 2.1. Quá trình mở mang đất đai và dựng xây cơ nghiệp 

Các tài liệu địa phương chí, lịch sử địa phương đã từng khẳng định rõ: “Lịch sử vùng đất Củ Chi gắn liền với lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, từ thế kỷ 17 bởi những lưu dân người Việt, phần lớn đến từ miền Trung” và “Xưa kia, từ Hóc Môn lên Củ Chi ngút ngàn bưng bàu xen lẫn rừng già liên tiếp lên tận Cao Miên, nổi tiếng nhiều thú dữ. Đây là vùng cư ngụ của những người dân lưu tán… Đa phần, họ đều giỏi võ nghệ, biết sống gắn bó với nhau và có truyền thống đấu tranh chống áp bức bốc lột” (10). 

Xa hơn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng đã cho biết từ giữa thế kỷ 17, cộng đồng người Việt từ vùng Thuận - Quảng qua nhiều đợt di cư vào địa bàn Đông Nam Bộ, “trong đó có huyện Phước Long, dinh Trấn Biên, gồm 2 đạo Quang Phong và Quang Hóa…” (11). Tiếp sau đó, Địa chí Tây Ninh (2006) cũng ghi chép rằng “đến cuối thế kỷ 18, trên đất Tây Ninh đã hình thành những thôn làng dọc theo triền sông, gần các thủ sở, đồn bảo biên phòng. Cư dân ở những thôn ấp này đã canh tác nông nghiệp làm ra lương thực, đồng thời khai thác nguồn lâm thổ sản phong phú với các quy định thuế khóa hẳn hoi của chính quyền” mà trước đó “theo tài liệu thư tịch và gia phả của một số gia đình ở Tây Ninh hiện nay, vùng làng Bình Tịnh (xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh nay) năm 1809 vốn là cộng đồng đã vào vùng Củ Chi từ thế kỷ 17…” (12). 

Như vậy, vùng đất Củ Chi nay (gồm có Bà Giã trong đó) chắc chắn là nơi sớm có những cộng đồng cư dân nhập cư vào từ đất Thuận - Quảng xưa đúng như các tài liệu đã ghi chép nói trên. Trong Gia phả họ Võ…, (2017) điều đó cũng đã được khẳng định rõ ràng: “Vào khoảng những năm cuối thế kỷ 18 hoặc đầu thập kỷ thế kỷ 19 có những người họ Võ ở xứ Thuận An, trong đó có người anh Võ Văn Hay, em gái Võ Thị Phụng, em trai Võ Văn Sót và người cháu gọi bằng chú là Võ Văn Sáng, đã hòa nhập theo trào lưu Nam tiến đương thời, giương buồm theo đường biển, vượt qua bao gian nan vào đến đất Gia Định. Không biết các ông vì lý do nào: chạy giặc? lánh nạn? tìm nơi mưu sinh? hay lý do chính trị hoặc đến theo chủ trương của triều đình, mà phải thực hiện cuộc hải trình lâu ngày, nay cũng chưa ai tìm được cội nguồn thủy tổ ở đất Thuận An xưa!... Sau khi đến Gia Định xưa, nơi “đất lành” được chọn định cư là xứ Bà Giã này. Thuở ấy, từ Hóc Môn lên Củ Chi đến Tây Ninh, hai bên con đường sứ còn gọi là Thiên Lý Cù nay là quốc lộ 22, là những khu rừng nối tiếp nhau. Xứ Bà Giã hoang vu chỉ có vài nhóm nhà lác đác bên rừng rậm, trên vùng đất gò phù sa cổ. Họ Võ là một trong các họ đầu tiên đến cư ngụ và khai phá rừng hoang tạo thành thôn xóm, ruộng vườn như ngày nay… Chính các vị này là những Tổ phụ, Tổ mẫu đầu tiên… có công lưu truyền dòng dõi trong suốt 200 năm, đến nay được 8 đời (cũng có thể hơn)…” (13). 

Họ Võ là một trong những người đầu tiên định cư, phá rừng trên đất gò đồi Bà Giã, dựng nhà cửa, phát cỏ lập rẫy, làm ruộng với giống lúa nước địa phương với nhiều loại phổ biến, lúc đầu chủ yếu làm một vụ vào mùa mưa và sau đó dài ngày hơn từ tháng 5, 6 đến tháng 11, 12 Âm lịch. Công cụ canh tác chính là trâu, bò kéo cày, bừa, lúc đầu là cày Náng (như người Việt ở miền Trung, miền Bắc) sau này thấy không thích hợp nên đã dùng cày Mền (của người Miên) có cải tiến, lưỡi, trạnh bằng sắt, trục trái khế và tiếp theo là trục chông… Ngoài làm ruộng còn có nghề thủ công như đương (đan) lát, chằm nón lá, làm đường mía, chăn nuôi (gà, vịt, trâu, bò, ngựa…), nuôi tằm, dệt, nhuộm, xem mạch hốt thuốc (Bắc), nghề mộc… Bên cạnh trồng lúa lại có cấy nếp, đậu phộng chủ yếu để ép dầu dùng trong thức ăn và có lúc làm cả thuốc lá (dóc vàng và dóc xanh)…  

Bàn xắt thuốc lá những năm 1940 - 1945. Nguồn: Gia phả họ Võ… (2017)

2.2. Dấu ấn nhân vật và sự kiện lịch sử nổi bật giai đoạn đầu khai phá

Quá trình khai mở đất đai, dựng xây quê hương Bà Giã của dòng họ Võ qua nhiều giai đoạn với nhiều thế hệ ông bà, con cháu với biết bao gian lao cực khổ, có cả mồ hôi nước mắt lẫn xương máu… Đặc biệt nhấn mạnh ở đây chính là giai đoạn đầu khai phá, trong đó đáng chú ý là một bài thơ ngắn đã được chép lại từ “Bản Tộc hệ họ Võ” (năm 1924) với nội dung kể rằng:

Ông sơ thuở trước ở Thuận An

Trịnh Nguyễn phân tranh khắp phủ làng

Bất ổn muôn dân sanh đồ thán

Buộc lòng ông mới phải ly hương

Ly hương, tổ quán chạy vào Nam

Chồng vợ, hai em, một cháu trai

Tầm nơi ven tĩnh khai cơ nghiệp

Bà Giã xóm xưa dựng cửa nhà

                                          (Gia phả họ Võ…, 2017, tr. 12) 

Nội dung trên góp phần khẳng định và làm rõ rằng, họ Võ là một trong những người đầu tiên từ miền Trung vào định cư, phá rừng, dựng nhà, tạo vườn, phát cỏ lập rẫy, làm ruộng ở Bà Giã. Gia phả cũng ghi rõ người đầu tiên của dòng họ đó là ông Võ Văn Hay (sinh năm 1800 - không rõ năm mất, giỗ ngày 13/3 Âl) sau này đã lập gia đình với bà Nguyễn Thị Điền, là chị của ông Nguyễn Văn Hương ở xóm Đông (ấp Phước Yên sau này). Từ đó suy ra, họ Nguyễn của bà Điền cũng có thể là những người đã cùng đi trong đoàn vượt biển vào Nam lúc ấy (?). 

Cũng rất đáng chú ý, một đoạn nguyên văn trong Gia phả họ Võ… (2017) nói về tên gốc của Tổ phụ Võ Văn Hay như sau: “Theo cách phát âm của người Củ Chi thì xưa nay đều đọc và viết tên ông là Hai (một, hai) cho nên bài vị thờ lập năm 1985 cũng viết là Hai. Bản gia phả này trước đây cũng viết chữ Hai i ngắn. Đến năm 2000, do lục tìm nguyên bản số địa bạ Minh Mạng (1836) về việc lập địa bạ 6 tỉnh Nam kỳ, thấy viết là Hay, Hay y dài…” (trang 12). Cụ thể hơn, địa bạ do Trương Đăng Quế lập ra khi vào Nam đo đạc đất đai thời Minh Mạng thứ 17 (1863) có ghi: “Thôn Phước An ở xứ Thị Dả, Đông Tây và Nam đều giáp thôn Tân Phú Trung, Bắc giáp thôn Vĩnh An (Cây Bài) thuộc tổng Dương Hòa Trung, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình… Ruộng mới khẩn do ông Võ Văn Hay phân canh chỉ có 2 mẫu 8 sào 12 cao là chủ ruộng duy nhất, ông Hay cũng là Thôn trưởng thôn Phước An…” (14).

Con dấu trưởng thôn Phước An của cụ Võ Văn Hay. Nguồn: Gia phả họ Võ… (2017)

Tiếp theo, ông Võ Văn Nhâm (1816-?) cũng được xem là một “tiền hiền” của họ Võ tại Bà Giã, là con trưởng của cụ Võ Văn Hay bên cạnh 10 anh chị em. Ông là người giỏi võ, đã cùng Trường Định sau này là Trương Quyền tổ chức chống Pháp với những trận đánh lớn ở Hóc Môn, Củ Chi, từng lập cơ sở lò rèn ở Tha La, Bà Sự, Núi Cậu để rèn vũ khí, đặc biệt những năm 1859 -1866 đã lập ra căn cứ địa quân sự Vòng Thành khá quy mô (dài 300m x rộng 260m, chân thành 5m) địa điểm ở Bưng Rê, Long Nguyên, nay là xã Tân Lập, Dầu Tiếng. Ngày 4/7/2005, UBND tỉnh Bình Dương đã ra quyết định công nhận “Di tích lịch sử cách mạng Vòng Thành họ Võ, xã Long Tân, Tỉnh Bình Dương”. 

Bia Di tích Vòng Thành tại xã Long Hòa huyên Bến Cát, tỉnh Bình Dương. (Văn bia do Ban QL Di tích và Danh thắng tỉnh Bình Dương dựng 27/9/2007)

Nếu theo như cách nói của nhà văn Sơn Nam rằng “Lưu dân là dân lưu tán, bỏ quê quán, bỏ làng xã mà đi làm ăn tha phương, nơi nào làm ăn được thì ở lại làm ăn ít lâu, không làm ăn được nữa thì đi nơi khác” (15) thì những dấu ấn khai phá mở mang vùng đất Bà Giã cùng với các dấu tích lịch sử cụ thể liên quan một số nhân vật thuộc họ Võ trên vùng đất Gia Định xưa như nói trên đã góp phần làm rõ vai trò, vị thế của dòng họ này theo hướng họ đã là những “lưu dân” thuộc loại “chánh hộ (gốc ở tại làng)” lâu đời chứ không phải là “khách hộ” (từ nơi khác đến)” nữa.  

 3. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA GIA ĐỊNH XƯA TRONG ĐỊA DANH BÀ GIÃ NAY VÀ QUA MÔ HÌNH GIA PHẢ HỌ VÕ

Thực chất vấn đề ở đây là những giải pháp thực tế nhằm tạo ra các yếu tố cụ thể làm cho địa danh Bà Giã phát huy được chức năng xã hội của nó với tư cách là những giá trị vốn có trong tiến trình lịch sử địa phương cũng như tác dụng tích cực của gia phả đối với các khía cạnh đời sống văn hóa tinh thần của con cháu gia đình dòng họ Võ tại Bà Giã như một ví dụ điển hình.

3.1. Địa danh và gia phả gắn giáo dục truyền thống với bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa quê hương đất nước cùng văn hóa gia đình dòng họ  

Như đã nêu ở phần trước, giá trị lịch sử - văn hóa làm cho địa danh và văn hóa gia đình dòng họ thông qua gia phả trở nên có tính hữu ích trong cuộc sống đất nước và con người tại chỗ do vậy chính giá trị ấy cũng đòi hỏi cần được bảo tồn, phát huy trong cuộc sống hiện tại theo nguyên lý phải làm rõ những biến cố liên quan con người và bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể trong quá khứ để qua đó:  

“Nói giáo dục truyền thống lịch sử “thực chất không chỉ là việc dạy và học sử trong nhà trường mà còn bằng nhiều hình thức sinh động khác như qua phương tiện thông tin và truyền thông, và đặc biệt là qua các hình thức tham quan du lịch v.v... Mục tiêu của vấn đề không phải chỉ là truyền đạt kiến thức lịch sử mà “đích cao nhất vẫn là cái “hồn” của sử trở thành một nét trong tâm tư, tình cảm, trong nhân cách sống (của con người)... nhằm đạt hiệu quả chiều sâu đó là không thể chỉ bằng, chỉ nhằm vào lý trí (tri thức) mà còn phải bằng và nhằm vào tình cảm (tâm hồn), hơn nữa là còn phải bằng và nhằm vào tâm linh (những cái thiêng liêng trong tinh thần) của con người” (16). 

Cũng chính điều trên làm cho chức năng giáo dục lịch sử qua địa danh và văn hóa gia đình dòng họ qua gia phả phải gắn liền với chức năng giáo dục văn hóa mà thực chất là giáo dục về những giá trị tinh thần có tác dụng đối với quá trình phát triển con người và xã hội trong giai đoạn hiện nay và cả mai sau trên cơ sở tạo ý thức tự giác thực hiện những điều theo tâm thức và đạo lý làm người cùng với các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.  

Hơn nữa, giáo dục truyền thống theo hướng như trên không chỉ tác động tích cực đối với các đối tượng cán bộ, nhân dân tại chỗ mà thông qua đó các giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh, giá trị văn hóa gia đình dòng họ còn có thể góp phần tuyên truyền quảng bá hình ảnh đất nước và con người của địa phương đến với bạn bè trong và ngoài nước bằng con đường du lịch theo đúng như tinh thần các mục tiêu, nhiệm vụ mang ý nghĩa chiến lược hiện nay: “Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, thương mại, dịch vụ và nông nghiệp đô thị bền vững gắn phát triển du lịch sinh thái …góp phần nâng chất xây dựng nông thôn mới; giữ gìn, phát huy truyền thống, văn hóa…” (17). 

Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tế đặt ra trên quy mô rộng lớn hơn nữa: “Trong khu vực ngoại thành của TP Hồ Chí Minh, Củ Chi là một địa bàn đặc biệt gắn liền xuyên suốt quá trình phát triển của Sài Gòn - Gia Định ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất… Dấu ấn đậm nét của Củ Chi trong lịch sử kháng chiến chống thực dân, đế quốc của Thành phố, của vùng Nam Bộ và cả nước đó là địa danh “Vùng Tam giác sắt”, đặc biệt là qua di tích Địa đạo Củ Chi nổi tiếng cả trên thế giới…” (18).                

Theo hướng như vậy, bên cạnh việc gắn kết nội dung giới thiệu về địa danh Bà Giã trong hệ thống tuyến điểm, chương trình du lịch tại địa phương thì nhà thờ họ Võ chẳng hạn ngoài tính chất là nơi thờ phượng, tổ chức các ngày giỗ chạp, lễ hội, cũng có thể làm nơi sinh hoạt rèn tập võ thuật dân tộc, võ dưỡng sinh của con cháu đồng thời đó còn là những điểm đến về du lịch của địa phương…  

Miếu thờ họ Võ (Võ Tôn miếu) ở Bà Giã. Nguồn: Gia phả họ Võ… (2017)

3.2. Gia phả cùng địa danh với giữ gìn, phát huy văn hóa gia đình dòng họ gắn trong các giá trị lịch sử - văn hóa địa phương và toàn dân tộc  

Nói tới truyền thống địa phương và dân tộc là nói đến những giá trị văn hóa kết tinh qua những thử thách lịch sử nhất định để hợp thành những “dòng chảy” như những “nguồn mạch” văn hóa - xã hội của toàn thể cộng đồng địa phương và dân tộc qua mọi hoàn cảnh và thử thách lịch sử, trong đó văn hóa gia đình dòng họ là bộ phận đóng vai trò như một trong những “nguồn mạch” quan trọng. Và, truyền thống văn hóa gia đình dòng họ ở đây thực chất là hệ thống giá trị gắn với các quan niệm sống (thế giới quan, nhân sinh quan), phong tục tập quán, lối sống, nếp ứng xử, tín ngưỡng (tâm linh), các sinh hoạt liên quan mọi mặt đời sống văn hóa vật chất, tinh thần… của một cộng đồng gia đình và dòng họ cụ thể mà trong đó hạt nhân quan trọng nhất vẫn là những gì liên quan đến con người thuộc các thế hệ người của gia đình và dòng họ, đặc biệt những con người “vượt trội” trong lịch sử với những hoàn cảnh thời thế khác nhau bằng thành tích sinh cơ lập nghiệp (khẩn đất, làm kinh tế…), sự nghiệp (học hành, thi cử, văn nghiệp, võ nghiệp…), công tích (với làng, nước ở lúc bình thường, trong các biến cố của cộng đồng)… Theo đó và từ đó, về bản chất truyền thống địa phương và dân tộc với văn hóa gia đình dòng họ tuy quy mô và tính chất có khác nhau nhưng về cơ bản là cùng một hệ thống giá trị mang tính chỉnh thể tức không có mâu thuẫn, đối lập nhau mà ngược lại luôn có mối quan hệ tương tác thống nhất nhau. 

Một dẫn chứng cụ thể, trong bài diễn văn đọc tại đồng mả ấp 1, Bà Giã, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi nhân Lễ tạ mả ông sơ Võ Văn Nhâm ngày 5/5/2001 do Võ Văn Sổ - Võ Ngọc An chấp bút và Hội đồng gia tộc duyệt (tháng 4/2001) đã có câu: “Người chết thì đã chết rồi, cái còn vĩnh viễn cho con cháu chúng ta và cho quê hương ngày nay, là ân đức, là dũng khí, là tinh thần yêu nước của tiền nhân. Chính sơ tổ Võ Văn Nhâm đã để lại cho con cháu và quê hương Phước Vĩnh An - Củ Chi tiếng thơm muôn thuở. Từng thế hệ con cháu họ Võ chúng ta rất lấy làm tự hào, quyết sống xứng đáng và quyết không làm một điều gì tủi hổ vong linh tiền nhân” (19).  

Tinh thần như đoạn văn nói trên trong thực tế truyền thống họ Võ qua bao nhiêu đời về cơ bản đã thành nếp sống của các thế hệ con cháu để thành cách thế ứng xử tình nghĩa trong gia đình dòng họ, với xóm giềng, tình yêu quê hương đất nước và dân tộc... Cụ thể hơn nữa, những thế hệ về sau gần đây nhất trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, trong dòng họ Võ đã có nhiều người trực tiếp tích cực tham gia cách mạng… Nổi bật trong đó, Võ Ngọc An đã từng chiến đấu và bị địch bắt giam ở tù Côn Đảo, sau giải phóng năm 1975 đã sôi nổi tham gia nhiều vị trí công tác, đặc biệt đã cùng người anh là Võ Văn Sổ (cũng từng là người tích cực tham gia cách mạng) và một số cộng sự khác để thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả trực thuộc Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, sau này trực tiếp trở thành lực lượng nồng cốt để thành lập Viện Lịch sử Dòng họ, một cơ quan duy nhất và đầu tiên trong cả nước tiến hành việc nghiên cứu lý thuyết và cả thực hành về văn hóa gia đình, dòng họ, góp phần xây dựng các gia phả và ngành Gia phả học...

Cũng chính từ tinh thần đó và vì đồng cảm với tinh thần ấy, PGS-TS Mạc Đường Chủ tịch Hội đồng Viện Lịch sử Dòng họ, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu nhận xét sau khi đọc Gia phả họ Võ… (2017) như sau: “Đây là công trình khoa học lịch sử xưa nay hiếm người quan tâm. Nhưng nay đã trở thành một nhu cầu tinh thần và đạo đức của nhiều người… Do đó, việc nghiên cứu lịch sử dòng họ và biên soạn gia phả sẽ ngày càng phát triển” với quan điểm, định hướng chung là “không thực hiện gia phả vị gia phả mà thực hiện gia phả vị nhân sinh” nhằm “nâng cao lòng yêu nước, xây dựng văn hóa và nhân cách trong gia đình, đoàn kết với các dòng họ khác cùng nhau phát triển đất nước” (20).           

Theo đó, nhìn một cách khái quát nhất, xây dựng gia phả và giáo dục truyền thống gia đình và dòng họ qua gia phả có ý nghĩa trực tiếp hoặc gián tiếp việc góp phần tác động vào truyền thống và bản sắc văn hóa cũng như xây dựng nội lực của địa phương, của quốc gia và dân tộc. Những công việc này sẽ có ý nghĩa rất sâu xa đối với mục tiêu góp phần xây dựng con người và xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

KẾT LUẬN 

Thông qua Gia phả họ Võ kết hợp một số tài liệu thư tịch khác cho thấy những sự kiện và con người cụ thể gắn trong địa danh Bà Giã ở Củ Chi - Thành phố Hồ Chí Minh nay không chỉ toát lên những giá trị lịch sử - văn hóa liên quan đất nước, con người của vùng Gia Định xưa mà qua đó còn có thể gợi mở thêm những ý nghĩa quan trọng khác. Những biến động lớn của chế độ phong kiến Việt Nam ở giai đoạn cuối nói chung, của thời chúa và vua Nguyễn nói riêng phản ánh qua sự phiêu tán đầy gian khó của những gia đình dòng họ người Việt từ miền Trung tiến vào phương Nam để góp phần khai phá mở mang vùng đất Nam Bộ trong bối cảnh đất nước sắp bước vào thời đại mới, thời đại đối đầu chống lại các thế lực xâm lược thực dân đế quốc phương Tây dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cuộc chiến đấu đầy cam go, gian khổ thậm chí có nhiều hy sinh, mất mát nhưng trên hết vẫn là sức mạnh của tình dân tộc, nghĩa đồng bào, tình nghĩa gia đình, dòng họ, tấm lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần vì độc lập, tự do của Tổ quốc… Thông qua những con người thật, việc thật gắn với những gia đình dòng họ thật sự cùng góp phần tạo nên những giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh Bà Giã nói riêng, địa phương toàn vùng Củ Chi, Hóc Môn của Gia Định xưa, TP Hồ Chí Minh nay nói chung. Trong bối cảnh chung ấy, Gia phả họ Võ với tư cách như một bộ “gia sử” không chỉ để nói về lịch sử gia đình dòng họ Võ mà còn có thể góp phần làm sáng tỏ hơn những giá trị lịch sử - văn hóa liên quan đất nước và con người tại địa phương, là cơ sở quan trọng để gợi mở về việc bảo tồn và phát huy tốt nhất các vốn di sản văn hóa dân tộc lưu dấu trên vùng đất ấy. Đây là điều có ý nghĩa chiến lược, bởi trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với quá trình hội nhập thế giới ngày càng sâu rộng, việc bảo tồn và phát huy những vốn văn hóa dân tộc, đặc biệt là giá trị lịch sử - văn hóa các địa danh và truyền thống văn hóa từng gia đình, dòng họ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sẽ ngày càng có vị trí hết sức quan trọng./.

CHÚ THÍCH:

- (1): Thành viên Hội đồng Viện Lịch sử Dòng họ, giảng viên cao cấp Khoa Văn hóa học, Đại học KHXHNV-ĐHQGTPHCM, nguyên Hiệu trưởng Trường CĐ Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh.

- (2): Wikipedia

- (3): Đứng đầu (chấp bút chính) là Võ Văn Sổ, Nhà Gia phả - Hán Nôm học của Viện Lịch sử Dòng họ cùng các tác giả khác: Lê Văn Sạch, Võ Văn Cội, Võ Văn Một, Trần Mạnh Tiến, Văn Công Chí, Võ Ngọc An, Diệp Hồng Phương.

- (4): Huỳnh Quốc Thắng. (2016). Địa danh với toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch. NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh: tr. 286.

- (5): Huỳnh Quốc Thắng. (2008). Những bài học vô giá cho người đi sau, trong sách “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử”. Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh - NXB Tổng hợp TPHCM: tr.269.

- (6): Gia phả họ Võ… (2017). Viện Lịch sử Dòng họ - Trung Tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Công an nhân dân, tr. 329.

- (7): Huỳnh Minh. (1973). Gia Định xưa và nay. Sài Gòn: Tác giả xuất bản, tr. 196 - 198.  

- (8): Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa. (1973). Đại Nam nhất thống chí (tập Thượng, phần Lục tỉnh Nam Việt). Sài Gòn (tái bản): tr. 87.  

- (9): Võ Tấn Tạo, Võ Văn Sổ, Võ Ngọc An. (2003). Địa đạo Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An cái nôi của Địa đạo Củ Chi. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Trẻ. 

- (10): Nguyễn Đình Thống (chủ biên), Dương Thành Thông, Nguyễn San Hà. (2015). Củ Chi xưa và nay. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Văn hóa - Văn nghệ, tr. 9 & 24. 

- (11): Trịnh Hoài Đức. (1972). Gia Định thành thông chí (tập Trung). Sài Gòn:  Nha Văn hóa, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, tr. 272.

- (12): Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. (2006). Địa chí Tây Ninh. Sở Văn hóa Thông tin Tây Ninh & Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn tại Thành phố Hồ Chí Minh: tr. 88.

- (13): Gia phả họ Võ… (2017). Viện Lịch sử Dòng họ - Trung Tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Công an nhân dân, trang 11.

- (14): Dẫn lại theo Gia phả họ Võ… (2017). Viện Lịch sử Dòng họ – Trung Tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP. Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Công an nhân dân, tr. 329.

- (15): Sơn Nam. (1984). Đất Gia Định xưa. NXB Thành phố Hồ Chí Minh: trang 21.

- (16): Huỳnh Quốc Thắng. (2008). Những bài học vô giá cho người đi sau. Trong sách “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử”. Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh - NXB Tổng hợp TP.HCM: 268. 

- (17): Đảng bộ huyện Củ Chi. (2020). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Củ Chi lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025. Số 01-NQ/HU ngày 29/8/2020.

- (18): Huỳnh Quốc Thắng. (2022). Củ Chi với định hướng mục tiêu và giải pháp phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong kỷ yếu hội thảo khoa học “Tiềm năng, định hướng phát triển và cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn huyện Củ Chi”. UBND huyện Củ Chi & Học viện Cán bộ TP.HCM. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh: tr. 128.

- (19): Trích Gia phả họ Võ… (2017). Viện Lịch sử Dòng họ - Trung Tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Công an nhân dân, tr. 353.

- (20): Viện Lịch sử Dòng họ. (2020). Nhà Gia phả - Hán nôm học Võ Văn Sổ (1928 - 2016). NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh: tr. 27.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:  

- Đảng bộ huyện Củ Chi. (2020). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Củ Chi lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025. Số 01-NQ/HU ngày 29/8/2020.

- Gia phả họ Võ xứ Bà Giã - Ấp 1, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh. (2017). Viện Lịch sử Dòng họ -Trung Tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP. Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Công an nhân dân.

- Huỳnh Minh. (1973). Gia Định xưa và nay. Sài Gòn: Tác giả xuất bản.

- Huỳnh Quốc Thắng. (2008). Những bài học vô giá cho người đi sau, trong sách “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử”. Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh - NXB Tổng hợp TPHCM: tr.268-270.

- Huỳnh Quốc Thắng. (2016). Địa danh với toàn cầu hóa và địa phương hóa du lịch. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch”, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn - Trường Đại học Charles de Gaulle-Lille III. NXB Đại học Quốc gia TPHCM: tr. 286 – 295.  

- Huỳnh Quốc Thắng. (2022). Củ Chi với định hướng mục tiêu và giải pháp phát triển mô hình du lịch nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong kỷ yếu hội thảo khoa học “Tiềm năng, định hướng phát triển và cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn huyện Củ Chi”. UBND huyện Củ Chi & Học viện Cán bộ TPHCM. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh: tr. 121 – 141.

- Nguyễn Đình Thống (chủ biên), Dương Thành Thông, Nguyễn San Hà. (2015). Củ Chi xưa và nay. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Văn hóa – Văn nghệ.

- Nguyễn Phan Quang. (1998). Góp thêm tư liệu Sài Gòn -Gia Định từ 1859 -1945. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Trẻ.

- Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa. (1973). Đại Nam Nhất Thống Chí (tập Thượng, phần Lục tỉnh Nam Việt). Sài Gòn (tái bản).   

- Sơn Nam. (1984). Đất Gia Định xưa. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 

- Trịnh Hoài Đức. (1972). Gia Định thành thông chí (tập Trung). Sài Gòn:  Nha Văn hóa, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa.

- Viện Lịch sử Dòng họ. (2020). Nhà Gia phả - Hán nôm học Võ Văn Sổ (1928 - 2016). NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

- Võ Tấn Tạo, Võ Văn Sổ, Võ Ngọc An. (2003). Địa đạo Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An cái nôi của Địa đạo Củ Chi. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Trẻ. 

- Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi. (2020). Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh giai đoạn 2020 -2025. Số: 3894/BC-UBND Củ Chi, ngày 4/5/2020.

- Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. (2006). Địa chí Tây Ninh. Sở Văn hóa Thông tin Tây Ninh & Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn tại Thành phố Hồ Chí Minh. 

PGS-TS HUỲNH QUỐC THẮNG (1)