Trang chủ > Sinh hoạt chuyên đề: 'Vua Minh Mạng và gia phả Hoàng tộc nhà Nguyễn'

Sinh hoạt chuyên đề: 'Vua Minh Mạng và gia phả Hoàng tộc nhà Nguyễn'

31/10/2026 11:45:51

Lúc 8h30 ngày 31/10/2026 tại số 4 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề "Vua Minh Mạng và gia phả Hoàng tộc nhà Nguyễn". 

Toàn cảnh buổi sinh hoạt

Tham dự chuyên đề có Nhà gia phả học Võ Ngọc An (Giám đốc Trung tâm Nguyên cứu và Thực hành Gia phả), Nhà gia phả học Nguyễn Thanh Bền (Phó Giám đốc Trung tâm) cùng các nhà nghiên cứu là thành viên của Trung tâm.

Ngoài ra còn có 2 đại diện của CLB Gia phả Trẻ và đặc biệt là sự có mặt của vợ chồng ông Võ Mạnh Đức, Giám đốc Trung tâm Thờ cúng Mạc tộc TP.HCM.

Diễn giả của buổi sinh hoạt chuyên đề là Nhà gia phả học Nguyễn Hữu Trịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả (Hội Khoa học lịch sử TP.HCM).

Nhà gia phả học Nguyễn Hữu Trịnh, diễn giả của buổi sinh hoạt chuyên đề 

GIỚI THIỆU TÓM TẮT:

Giai đoạn vua Minh Mạng trị vì đất nước được xem là giai đoạn thịnh trị của triều Nguyễn. Thời vua Gia Long có thể nói đó là thời kỳ ra sức xây dựng đất nước về mọi mặt sau cuộc chiến kéo dài 224 năm, tính từ năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu thời kỳ chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài và các cuộc nội chiến liên miên giữa các tập đoàn phong kiến; cho đến năm 1802 sau khi kết thúc 25 năm chinh chiến với nhà Tây Sơn.

Nhưng dưới triều đại vua Minh Mạng, đất nước đã ổn định, vua Minh Mạng có điều kiện để chăm lo những vấn đề về dòng họ, ông lập ra Phủ Tôn nhân, tu chỉnh Ngọc phả và đặt ra một số qui định để làm rõ mối quan hệ thân, sơ của dòng họ Nguyễn Phúc.

Chuyên đề vua Minh Mạng và gia phả Hoàng tộc nhà Nguyễn chủ yếu tìm hiểu mối quan hệ thân sơ đó qua 2 sự kiện: 

- Sự kiện năm 1823 (Minh Mạng năm thứ 4): vua Minh Mạng chia dòng họ Nguyễn thành Tiền hệ và Chính hệ (trong Chính hệ lại chia thành Đế hệ và Phiên hệ) đồng thời ban bố Đế hệ thi và Phiên hệ thi dùng cho việc đặt tên cho con cháu nội thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn.

Cũng từ đó mà những chữ như: Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh trong Đế hệ thi, thực chất là tượng trưng cho “đời” trong gia phả, nhưng về sau một số chữ như Bửu, Vĩnh, Bảo lại trở thành họ (tương tự như họ Nguyễn, họ Trần…).

Một số chữ để chỉ quan hệ thế thứ đối với con cháu của Hoàng tử như: Công tôn nữ, Tôn nữ, Công tằng tôn nữ, Công huyền tôn nữ về sau lại được dùng như họ của một người. 

- Sự kiện năm 1829 (Minh Mạng năm thứ 10): vua Minh Mạng qui định về việc dòng Đế hệ tiếp tục dùng họ Nguyễn Phúc; còn Tiền hệ và Phiên hệ thì phải thay Nguyễn Phúc bằng Tôn Thất (đối với nam) và Tôn Nữ (đối với nữ).

Nếu trước đây, mọi người thường nói: Những người mang họ Tôn Thất, Tôn Nữ là thuộc dòng dõi nhà vua; thì nay hiểu rõ sự kiện năm 1829 chúng sẽ tường tận hơn về những người hiện nay mang họ Tôn Thất, Tôn Nữ…

NỘI DUNG:

I. BÀI TỰA CỦA VUA MINH MẠNG - CƠ SỞ CỦA VIỆC HỆ THỐNG HÓA DÒNG HỌ NGUYỄN PHÚC

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ trang 96-97, tập 1 (Nội các triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa - Huế, 1993) đăng bài tựa của vua Minh Mạng, đây được xem là cơ sở của việc hệ thống lại dòng họ Nguyễn Phúc.

Bài tựa của vua Minh Mạng ở trang 96-97 sách Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ

Bài tựa của vua Minh Mạng như sau:

“Minh Mạng năm thứ 4, vua làm bài tựa nói rằng: Nhà nước ta nguyên trước gây dựng ở ngoại trang xã Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung xứ Thanh Hóa, họ là họ Nguyễn, đời trước đã là một họ to, đời đời trâm anh, đâu phải chỉ hơn vài trăm năm nay, tu nhân tích đức để có ngày nay, thực sánh với nhà Chu vậy. Bởi thế hoàng thiên mến yêu sinh ra đức Triệu tổ Tĩnh Hoàng đế ta gây dựng nghiệp lớn, tiếp theo sinh ra đức Thái tổ Gia Dũ Hoàng đế ta gây dựng cơ nghiệp ở miền Nam bèn lấy chữ Phúc tiếp theo chữ Nguyễn. Gọi quốc tính là Nguyễn Phúc vậy. Các thánh nối theo nhau đều nối theo bậc thánh. Đến đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta dẹp yên loạn lạc khắp cả nước Việt, sai làm Ngọc phả, lấy con cháu đức Thái tổ vào Nam cùng hệ các thánh làm họ Tôn thất Nguyễn Phúc. Còn những con cháu đức Thái tổ ở ngoài Bắc cùng các phái thì gọi là Công tính Nguyễn Hựu. Đến như miếu hiệu các thánh thì phần nhiều là theo bộ “Thủy”.

Về tên đức Thế tôn Hiếu Vũ Hoàng đế và tên người Tôn thất thì cũng có khi dùng bộ "Nhật"; truyền đến đức Hoàng khảo ta thì chuyên dùng bộ "Nhật". Gần trăm năm nay dòng họ Tôn thất thêm nhiều, đưa đến chỗ tên trùng nhiều. Hoàng khảo ta khi ở ngôi có ý muốn thay đổi và ổn định tên chữ, truyền cho con cháu dùng mà đặt tên sau này, tiếc rằng việc làm chưa xong; cho nên muốn nối đức sáng trước, để thực hiện chí cha ông, thân chọn lấy 20 chữ thuộc bộ "Nhật" để cho về sau nối theo, cứ đến ngày lên nối ngôi mới nên lấy một chữ làm tên, ấy là lấy cái nghĩa chữ “Nhật" là tượng trưng cho cái nghĩa làm vua, mà lấy cái tên đặt cho lúc còn bé làm tên tự. Còn về những con cháu cùng con cháu các anh em thì sẽ soạn mỹ tự khác chia làm hệ nhà vua, cùng các hệ của anh ta như Anh Duệ thái tử, em ta là Kiến An, Định Viễn, Diên Khánh, Điện Bàn, Thiệu Hóa, Quang Uy, Thường Tín, An Khánh và Từ Sơn, tất cả là 10 hệ.

Hôm mới ra xin đặt tên, thì tên hoàng tử, chữ trên lấy một chữ nào đó trong bài thơ đế hệ, chữ dưới lấy bộ chữ nào đó của đời thứ mấy; tên các công tử thì chữ trên lấy một chữ nào đó của thứ bậc trong bài thơ về công hệ, chữ dưới với ý nghĩa ngũ hành tương sinh, thì lấy bộ Thổ làm sự bắt đầu, như chữ "Miên" trong hệ nhà vua - Miên Định; là Mỹ Đương Mỹ Thùy hệ Anh Duệ; Lương Kỳ, Lương Viên là hệ Kiến An; Tỉnh Cơ, Tỉnh Cẩn là hệ Định Viễn; Diên Vực, Diên Đế là hệ Diên Khánh; Tin Kiên, Tin Phác là hệ Điện Bàn; Thiện Khuê, Thiện Chỉ là hệ Thiệu Hóa; Phượng Tại, Phượng Vu là hệ Quang Uy; Thường Nhâm, Thường Dung là hệ Thường Tín; Khâm Thịnh, Khâm Bích là hệ An Khánh; Từ Đàn, Từ Cương là hệ Từ Sơn; như thế thì thế thứ rõ ràng mà không rối, họ gần họ xa phân biệt mà tỏ tường, cái đạo luân thường hồn hậu, dòng họ hòa mục do đó mà dấy lên, cái dòng ngọc điệp thiên hoàng do đó mà rõ rệt. Con cháu ta nên tuân giữ phép tắc, để cho gốc ngọn trăm đời, lưu truyền mãi mãi theo đấy mà mong đáp ơn trời tổ thương yêu là được. Vậy nay làm bài tựa này”.

II. HỆ THỐNG HÓA HỌ NGUYỄN PHÚC TỪ CHÚA NGUYỄN HOÀNG ĐẾN VUA MINH MẠNG

Trong thời gian trị vì đất nước, vua Minh Mạng đã cho lập phủ Tôn nhân để chăm sóc những người trong dòng họ; cập nhật Ngọc phả để ghi lại thế thứ, thân sơ của những người trong họ… Trong quá trình đó, ông đã đưa ra những qui định để hệ thống hóa dòng họ Nguyễn Phúc của vua chúa nhà Nguyễn. Con cháu của vua chúa nhà Nguyễn được hệ thống thành: Tiền hệ và Chánh hệ, trong Chánh hệ lại phân làm Đế hệ và Phiên hệ. 

TIỀN HỆ: gồm tất cả con cháu của 9 đời chúa (từ chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho đến chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần) như sau:

1. Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên): 1558 - 1613

2. Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi): 1613 - 1635

3. Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng): 1635 - 1648

4. Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền): 1648 - 1687

5. Nguyễn Phúc Trăn (Thái) (Chúa Nghĩa): 1687 - 1691

6. Nguyễn Phúc Chu (Chúa Minh): 1691 - 1725

7. Nguyễn Phúc Trú (Chúa Ninh): 1725 - 1738

8. Nguyễn Phúc Khoát (Chúa Vũ): 1738 - 1765

9. Nguyễn Phúc Thuần (Chúa Định): 1765 - 1777

CHÁNH HỆ: gồm tất cả con cháu của vua Gia Long. Trong Chánh hệ lại chia thành:

- Đế hệ: Là con cháu của vua Minh Mạng (con cháu họ Nguyễn Phúc có gốc từ vua Minh Mạng). Chỉ dòng Đế hệ này mới được nối ngôi vua.

- Phiên hệ: Là con cháu của anh và em vua Minh Mạng (tổng cộng có 10 dòng Phiên hệ) như sau:

1. HỆ ANH DUỆ: Là con cháu của đích trưởng tử Anh Duệ Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (06/04/1780 - 20/03/1801).

2. HỆ KIẾN AN: Là con cháu của Kiến An vương Nguyễn Phúc Đài (05/10/1795 - 14/11/1849).

3. HỆ ĐỊNH VIỄN: Là con cháu của Định Viễn Quận vương Nguyễn Phúc Bính (06/09/1797 - 16/08/1863).

4. HỆ DIÊN KHÁNH: Là con cháu của Diên Khánh vương Nguyễn Phúc Tấn (21/03/1799 - 17/07/1854).

5. HỆ ĐIỆN BÀN: Là con cháu của Điện Bàn Quận công Nguyễn Phúc Phổ (03/05/1799 - 11/09/1860).

6. HỆ THIỆU HÓA: Là con cháu của Thiệu Hóa Quận vương Nguyễn Phúc Chẩn (30/4/1803 - 26/10/1824).

7. HỆ QUẢNG UY: Là con cháu của Quảng Uy Quận công Nguyễn Phúc Quân (20/08/1809 - 26/05/1829).

8. HỆ THƯỜNG TÍN: Là con cháu của Thường Tín Quận vương Nguyễn Phúc Cự (02/10/1810 - 11/8/1849).

9. HỆ AN KHÁNH: Là con cháu của  An Khánh Quận vương Nguyễn Phúc Quang (10/09/1811 - 29/06/1945): 

10. HỆ TỪ SƠN: Là con cháu của Từ Sơn Quận công Nguyễn Phúc Mão (25/10/1813 - 18/08/1868).

(Trong sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, các “Hệ” được gọi là “Phòng”).

III. CÁCH ĐẶT TÊN THEO ĐẾ HỆ THI

1. Đối với con trai thuộc dòng Đế hệ

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) trong bài tựa nói trên, vua Minh Mạng đã đề cập khá cụ thể đến việc đặt tên cho con cháu thuộc dòng Đế hệ và các dòng Phiên hệ.

Cụ thể, năm 1829 vua Minh Mạng ban hành Đế hệ thi và Phiên hệ thi. Con cháu thuộc dòng Đế hệ thì dựa vào bài Đế hệ thi để đặt tên, còn con cháu của 10 dòng Phiên hệ thì mỗi Phiên hệ dựa vào bài Phiên hệ thi của Phiên hệ mình để đặt tên.

Bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi đều do vua Minh Mạng soạn ra.

Đế hệ thi được khắc trong Sách vàng (Kim sách) gồm 1 bài, có 4 câu, mỗi câu 5 chữ, tổng cộng gồm 20 chữ tương ứng với 20 đời. Mỗi chữ trong Đế hệ thi đều mang ý ngĩa tốt đẹp cho cuộc sống, cho tương lai…

Đế hệ thi áp dụng từ đời con của vua Minh Mạng (tương ứng với đời 13 trong Nguyễn Phúc tộc thế phả).

Nguyên tắc đặt tên từ Đế hệ thi như sau:

Các đời sau vua Minh Mạng (bắt đầu từ vua Thiệu Trị), tuần tự mỗi đời lấy một chữ làm chữ đầu của tên kép, bắt đầu từ chữ “Miên”; sau chữ Miên là chữ thứ hai của tên kép (chữ này phải theo bộ được qui định đi kèm) và trước tên kép là họ Nguyễn Phúc. 

Cấu tạo của họ tên các con, cháu nội, cháu cố, cháu sơ... của vua Minh Mạng chúng ta thấy tuân theo Đế hệ thi như sau:

 (Sắp xếp theo thứ tự vua trị vì)

- Vua Thiệu Trị có tên: Nguyễn Phúc Miên Tông (con của vua Minh Mạng).

- Vua Tự Đức có tên: Nguyễn  Phúc Hồng Nhậm (con của vua Thiệu Trị).

- Vua Dục Đức có tên:  Nguyễn Phúc Ưng Ái (Ưng Chân) (con của Nguyễn Phúc Hồng Y, con nuôi của vua Tự Đức, gọi vua Tự Đức bằng bác ruột). 

- Vua Hiệp Hòa có tên: Nguyễn Phúc Hồng Dật (con trai út của vua Thiệu Trị, em của vua Tự Đức).

- Vua Kiến Phúc có tên: Nguyễn Phúc Ưng Đăng (con của Nguyễn Phúc Hồng Cai, gọi vua Tự Đức bằng bác ruột, con nuôi của vua Tự Đức).

- Vua Hàm Nghi có tên: Nguyễn Phúc Ưng Lịch (con của Nguyễn Phúc Hồng Cai, gọi vua Tự Đức bằng bác ruột).

- Vua Đồng Khánh có tên: Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (con của Nguyễn Phúc Hồng Cai, gọi vua Tự Đức bằng bác ruột, con nuôi của vua Tự Đức).

- Vua Thành Thái có tên: Nguyễn Phúc Bửu Lân (con của vua Dục Dức).

- Vua Duy Tân có tên : Nguyễn Phúc Vĩnh San (con vua Thành Thái).

- Vua Khải Định có tên: Nguyễn Phúc Bửu Đảo (con của vua Đồng Khánh).

- Vua Bảo Đại có tên: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (con của vua Khải Định).

Trong biểu mẫu đồ họa này, các vua có tên đặt theo "Đế hệ thi" được sắp xếp thứ tự theo đời (Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh...); nếu có nhiều vua trong cùng một đời thì sắp anh trước, em sau

Đế hệ thi gồm 20 chữ, nhưng mới dùng 5 chữ (Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh) thì chấm dứt các triều đại vua Nguyễn. Cần lưu ý rằng, Đế hệ thi áp dụng từ vua Thiệu Trị; nếu tính từ vua Thiệu Trị đến vua Bảo Đại thì có 11 vua; trong 11 vua này, có nhiều vua cùng thế hệ nên dùng chung 1 chữ. Ví dụ: vua Dục Đức là Nguyễn Phúc Ưng Ái, vua Kiến Phúc là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, vua Hàm Nghi là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, vua Đồng Khánh là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ…

* Ngoài ra, Khi hoàng tử lên ngôi vua, ngài sẽ có một tên đơn. Đó là 1 trong 20 chữ thuộc bộ “nhật” chép sẵn trong Kim sách, theo thứ tư mà chọn lấy:

Tuyền Thì Thăng Hạo Minh 暶時昇昊明

Biện Chiêu Hoàng Tuấn Điển 辨昭暀晙典

Trí Huyên Gián Huyên Lịch 智暄暕晅㬏

Chất Chiết Yến Hy Duyên 晊晢曣曦㫟

(Theo thứ tự trên, vua Thiệu Trị có tên là Nguyễn Phúc Tuyền, vua Tự Đức có tên là Nguyễn Phúc Thì, vua Hiệp Hòa có tên là Nguyễn Phúc Thăng…)

* Chú ý:

      a. Con cháu của vua Thiệu Trị thì tên kép hoàn toàn theo Đế hệ thi.

      b. Con cháu của các người em của vua Thiệu Trị thì: Chữ đầu tên kép là theo Đế hệ thi; chữ sau của tên kép là chữ có bộ chữ Hán theo “Phòng”, do vua Thiệu Trị ban năm 1845 (mỗi người em vua Thiệu Trị có con cháu là đứng đầu 1 “Phòng”).

“Đó là tên, còn họ Nguyễn Phúc thì ngày trước không được sử dụng để đặt trước tên, mà lại dùng một số chữ đặt trước tên xác định vị thứ của người có tên đối với vị Hoàng tử mở ra Phòng. Trường hợp này ta sẽ trình bày rõ ở phần tên các Tôn nữ” (trang 420 sách Nguyễn Phúc tộc thế phả).

2. Đối với con gái (họ nội) thuộc dòng Đế hệ

Trang 97 sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tập 1 (Nội các triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa - Huế, 1993) (sách đã dẫn) có đoạn:

“Con hoàng tử cũng gọi là công tử, thực chưa hợp lý, vậy từ nay về sau phàm con các hoàng tử đều gọi là hoàng tôn, những cháu của hoàng tử đều gọi là hoàng tằng tôn; các chắt hoàng tử đều gọi là hoàng huyền tôn, về gái cũng theo lệ ấy, không được gọi bừa, nếu ai phạm vào điều đó thì lấy luật trị tội để cho có sự phân biệt”. 

Phần này vua Minh Mạng không nói cụ thể việc đặt tên cho con gái họ Nguyễn Phúc.

Tuy nhiên, sách  Nguyễn Phúc tộc thế phả (trang 420, sách đã dẫn) lại viết khá rõ ràng như sau:

“Từ thời Thánh Tổ trở về sau định rõ con gái của vua gọi là Hoàng nữ, khi được sắc phong thì trở thành Công chúa có tên hiệu riêng. Ví dụ Hoàng nữ Lương Đức được phong Công chúa có hiệu An Thường…

Tên của Hoàng nữ, Tôn nữ thường tên kép và được tùy tiện không theo qui luật nào cả… Muốn biết vị trí của các Tôn nữ này phải biết tên của anh em trai họ để dựa vào đấy suy ra đời, suy ra Phòng. Ngoài ra cũng giống ở phái nam, người ta còn gọi thêm một số chữ xác định thứ tự của họ đối với vị Hoàng tử mở ra Phòng. Trước hết ta phải xác định ý nghĩa của số chữ đó:

• Công 公: nghĩa là “ông” chỉ vị hoàng tử mở ra Phòng.

• Tôn 孫: nghĩa là cháu nội

• Tử 子: là con, chỉ con trai

• Nữ女: là gái, chỉ con gái

• Tằng tôn (chắt) 曾孫 : là cháu gọi bằng cố

• Huyền tôn (chít) 玄孫 : là cháu gọi bằng sơ

Như vậy Công tử là con trai của Hoàng tử, Công nữ là con gái của Hoàng tử, Công tôn là cháu gọi Hoàng tử bằng ông nội, Công tôn nữ là cháu gái gọi Hoàng tử bằng ông nội, Công huyền tôn là cháu gọi Hoàng tử bằng sơ, Công huyền tôn nữ là cháu gái gọi Hoàng tử bằng sơ…”.

Theo những danh xưng trên, đối với nữ, sau Công huyền tôn nữ trở đi thì dùng từ chung là Tôn nữ (để chỉ cháu gái). Một số trường hợp dùng “Lai tôn nữ”, nhưng rất ít.

Điều đáng nói là những danh xưng như Tôn công nữ, Công tằng tôn nữ, Công huyền Tôn nữ về sau được dùng như họ của một người trong giấy hộ tịch.

Sau đây là một số cháu gái khá nổi tiếng của dòng họ Nguyễn Phúc được nhiều người biết đến qua những danh xưng như trên:

- Công nữ Đồng Xuân (tên thật là Nguyễn Phước Tốn Tùy).

Bà là con gái của Thọ Xuân Vương Nguyễn Phúc Miên Định (hoàng tử thứ 3 của vua Minh Mạng). Xét theo vai vế hoàng tộc, bà là cháu nội của vua Minh Mạng và là em họ của các vua Thiệu Trị, Tự Đức.

Bà nổi tiếng khắp kinh thành Huế xưa là một tuyệt sắc giai nhân, thông minh và có tài văn chương, thi phú. Sự xuất hiện của bà tại các sự kiện quý tộc luôn là tâm điểm chú ý.

- Công tôn nữ Trí Huệ (1922 - 2023): Bà là chắt nội của vua Minh Mạng, cháu nội của Hoài Đức Quận Công Miên Lâm. Bà nổi tiếng là vị "Công tôn nữ" cuối cùng nắm giữ và lưu truyền bí quyết may gối trái dựa cung đình Huế.

- Công tằng tôn nữ Đồng Canh, nhà báo, nữ sĩ Đạm Phương, bà nội của Nguyễn Khoa Điềm.

Bà là con của Ưng Bình, cháu nội Hồng Khẳng, cháu cố Miên Trinh, cháu sơ Minh Mạng.

- Công tằng tôn nữ Đoan Trang (1946 - 2014) là tên khai sinh của nữ danh ca Quỳnh Giao, một trong những tiếng hát tiêu biểu và sang trọng bậc nhất của nền tân nhạc miền Nam trước năm 1975.

Bà là con của Ưng Quả, cháu nội Hồng Khảng, cháu cố Tuy lý vương Miên Trinh, cháu sơ vua Minh Mạng.

- Công Huyền Tôn Nữ Tuần Chi (Thường được biết đến với bút danh Huỳnh Diệp, một nữ sĩ và nhà giáo lừng danh của xứ Huế đầu thế kỷ XX).

Bà là  con của cụ Bửu Kính, cháu nội Ưng Phổ, cháu cố Hồng Khẳng, cháu sơ Tuy lý vương Miên Trinh (Miên Trinh là con Minh Mạng).

III. CÁCH ĐẶT TÊN THEO PHIÊN HỆ THI

Phiên hệ thi được khắc trong Sách bạc (Ngân sách) gồm 10 bài, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu 5 chữ. Cũng như Đế hệ thi, những chữ trong Phiên hệ thi cũng đều mang ý ngĩa tốt đẹp cho cuộc sống, cho tương lai…

10 bài Phiên hệ thi dành cho 10 Phòng (Hệ) của phiên hệ như sau:

1. Phòng ANH DUỆ 

Mỹ Lệ Tăng Cường Tráng     美 麗 增 彊 壯

Liên Huy Phát Bội Hương     聯 輝 發 佩 香

Linh Nghi Sùng Tốn Thuận   令 儀 咸 巽 順

Vĩ Vọng Biểu Khiêm Quang   偉 望 表 坤 光

2. Phòng KIẾN AN

Lương Kiến Ninh Hòa Thuật   良建寧和術

Du Hành Suất Nghĩa Phương 攸行率義方

Dung Di Tương Thức Hảo      融怡相式好

Cao Túc Thái Vi Chương       高宿彩為章

3. Phòng ĐỊNH VIỄN

Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái            靖懷瞻遠愛

Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha 景仰茂聲珂

Nghiễm Cách Do Trung Đạt      儼恪由衷達

Liên Trung Tập Cát Đa             連忠集吉多

4. Phòng DIÊN KHÁNH 

Diên Hội Phong Hanh Hợp 延會豐亨合

Trọng Phùng Tuấn Lãng Nghi 重逢儁朗宜

Hậu Lưu Thành Tú Diệu 厚留成秀妙

Diễn Khánh Thích Phương Huy 衍慶適芳徽

5. Phòng ĐIỆN BÀN

Tín Điện Tư Duy Chính 信奠思維正

Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh 誠存利妥貞

Túc Cung Thừa Hữu Nghị 肅恭承友議

Vinh Hiển Tập Khanh Danh 榮顯襲卿名

6. Phòng THIỆU HÓA 

Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lý 善紹期循理

Văn Tri Tại Mẫn Du 聞知在敏猷

Ngưng Lân Tài Chí Lạc 凝麟才至樂

Địch Đạo Doãn Phu Hưu 迪道允孚休

7. Phòng QUẢNG UY 

Phượng Phù Trưng Khải Quảng 鳳符徵啟廣

Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ 金玉卓標奇

Điển Học Kỳ Gia Chí 典學期加志

Giáo Di Khắc Tự Trì 教彝克自持

8. Phòng THƯỜNG TÍN 

Thường Hựu Tuân Gia Huấn 常佑遵家訓

Lâm Trang Túy Thạnh Cung 臨莊粹盛恭

Thận Tu Di Tiến Đức 慎修彌進德

Thụ Ích Mậu Tân Công 受益懋新功

9. Phòng AN KHÁNH 

Khâm Tòng Xưng Ý Phạm 欽從稱懿範

Nhã Thịnh Thủy Hoằng Quy 雅正始弘規

Khải Đễ Đằng Cần Dự 愷悌滕勤譽

Quyến Ninh Cộng Tập Hi 眷寧共緝熙

10. Phòng TỪ SƠN 

Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm 慈采揚瓊錦

Phu Văn Ái Diệu Dương 敷文藹耀陽

Bách Chi Quân Phụ Dực 百支勻輔翼

Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương 萬葉効匡襄

Cách đặt tên:

Sách Nguyễn Phúc tộc thế phả chép: “Con cháu của anh em của vua Minh Mạng cũng được đặt tên kép, chữ đầu theo thứ tự sẽ chọn trong Phiên hệ thi của Phòng tương ứng. Kể từ đời 13 trở đi, tức từ đời con các Hoàng tử mới đặt. Như vậy những chữ khởi đầu ở các Phiên hệ thi sẽ tương ứng với chữ Miên ở bài Đế hệ thi.

Về chữ thứ hai trong tên kép thì phải chọn các chữ trong bộ chữ Hán gồm bộ Thổ, bộ Kim, bộ Thủy, bộ Mộc, bộ Hỏa lại dùng theo luật tương sinh của ngũ hành mà đặt tên, khởi đầu bằng những chữ thuộc bộ Thổ”.

V. TÔN THẤT VÀ TÔN NỮ TỪ DỤ CỦA MINH MẠNG NĂM 1829

Sách Đại Nam thực lục (Chính biên, Đệ nhị kỷ, Quyển 57) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (bản dịch của Viện Sử học) chép:

“Tháng Hai âm lịch năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), nhà vua dụ rằng: Từ trước đến nay phàm con cháu thuộc Tiền hệ và Phiên hệ đều viết là Nguyễn Phước, nay nếu cứ theo thế thì người ngoài không thể phân biệt được bậc tôn thuộc với người xa. Nay chuẩn định: Con cháu thuộc Đế hệ mới được giữ nguyên họ Nguyễn Phước, còn con cháu các phòng của vương thúc, vương đệ từ nay trở đi phái nam gọi chung là Tông thất, phái nữ gọi chung là Tông nữ. Còn họ Nguyễn Phước của họ chỉ dùng để ghi vào sổ Ngọc điệp mà thôi, không được dùng làm họ gọi hàng ngày nữa để phân biệt hệ thống thân sơ”.

Sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, trang 422 chép: 

“Ở các Phiên hệ và Tiền hệ nam cũng như nữ, không dùng họ Nguyễn Phúc để đặt trước tên như trước kia, con trai sẽ dùng Tông Thất, con gái sẽ dùng Tông Nữ để đặt trước tên. Tông (宗) nghĩa là “dòng họ”; Thất (室) nghĩa là “nhà”, Tông Thất là chữ kép dùng để chỉ những người trong dòng họ nhà vua và Tông Nữ để chỉ con gái trong dòng họ nhà vua.

Về sau, đến khi đức Hiến Tổ kế nghiệp, chữ Tông (宗) phạm húy (vì tên của Hiến Tổ là Miên Tông) nên thay vì viết Tông Thất (宗 室) lại đổi thành Tôn Thất (尊室) với Tôn (尊) có nghĩa là đáng kính. Tông Nữ (宗 女) đổi thành Tôn Nữ (尊女).

Cần chú ý Tôn Nữ ở Đế hệ tuy cùng âm nhưng khác nghĩa, Tôn (孫) trong Tôn Nữ (孫女) ở Đế hệ có nghĩa là cháu”.

Qua 2 trích dẫn trên, chúng ta thấy rằng “Tôn Thất” (dùng cho nam) và “Tôn Nữ” (宗 女) (dùng cho nữ) là để thay cho “Nguyễn Phúc” thuộc dòng Tiền hệ và Phiên hệ, để gọi hàng ngày, còn Nguyễn Phước là chỉ dùng để ghi trong Ngọc điệp (gia phả).

Ngoài ra còn có Tôn Nữ (孫女) trong Đế hệ là danh xưng của cháu nội Hoàng tử (cháu cố của vua).

------------------------------

Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Phúc tộc thế phả, Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, NXB Thuận Hóa - Huế, 1995.

- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 1, Nội các triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa - Huế, 1993.

- Đại Nam thực lục, tập 2, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch của Viện Sử học, NXB Giáo dục.

Nhà gia phả học NGUYỄN HỮU TRỊNH